Hiển thị các bài đăng có nhãn Đền Chùa Tháp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đền Chùa Tháp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2015

Đền Côn Sơn Kiếp Bạc (Hải Dương)


Phong cảnh hữu tình của Kiếp Bạc cũng làm say đắm bao du khách đến đây. Đi thuyền trên sông Phả Lại sẽ được ngắm toàn bộ cảnh quan nơi này. Du khách còn được xem phim, xem kịch, xem chèo có nội dung gắn với lễ hội hoặc chứng kiến tận mắt những chiếc cọc đã từng đâm thủng chiếc thuyền của tướng Ô Mã Nhi hay sơ đồ những trận đánh của Trần Quang Khải, Trần Quốc Tuấn trong bảo tàng trưng bày truyền thống của quân dân nhà Trần…
Kiếp Bạc là tên ghép của hai vùng Vạn Yên (làng Kiếp) và Dược Sơn (làng Bạc). Đền được xây dựng từ năm Canh Tý (1300). Qua nhiều thế kỷ, các công trình kiến trúc ở Kiếp Bạc từ thời Trần và thời Lê đã bị hủy hoại. Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khu đền được trùng tu, tôn tạo.



Khu vực đền Kiếp Bạc nằm gần Lục Đầu Giang, là nơi tụ hội của sáu con sông: sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam, sông Đuống, sông Kinh Thầy và nhánh chính của sông Thái Bình.
Dulichgo
Một số người theo thuyết phong thủy cho rằng đây chính là nơi tụ khí để gây dựng cơ nghiệp. Theo đường bộ, đền Kiếp Bạc cách Hà Nội khoảng 80 km (50 dặm) đi theo đường quốc lộ số 1 đến Bắc Ninh rẽ sang đường quốc lộ số 18 và cách chùa Côn Sơn khoảng 5 km (3 dặm).



Cổng đền uy nghi bề thế với bức đại tự trên tam quan “Dĩ thiên vô cực” (Sự nghiệp này còn mãi với trời đất), hàng chữ bên dưới là “Trần Hưng Đạo Vương từ”.

Qua cổng tam quan là vào một sân rộng tục truyền là “Bãi Kiếm”, là nơi xét xử Phạm Nhan, tên tướng giặc có nhiều bùa phép gian ngoa. Hai bên sân là 2 dãy nhà dài, để khách thập phương dừng chân sửa soạn mâm lễ vật.

Nhà đại bái phía trong ở giữa đặt bàn thờ lớn, 2 bên là 4 ngai thờ 4 người con trai của Trần Quốc Tuấn là Trần Quốc Hiếu (Hiện), Trần Quốc Nghiễn, Trần Quốc Tảng, Trần Quốc Uy (Uất).



Bên trong hậu cung có 3 toà điện: tòa điện ngoài cùng thờ Phạm Ngũ Lão, tòa điện thứ hai thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, tòa điện trong cùng thờ phu nhân Trần Quốc Tuấn là công chúa Thiên Thành và hai con gái được gọi là Nhị vị Vương cô.
Dulichgo
Trong đền hiện còn 7 pho tượng bằng đồng: Tượng Trần Quốc Tuấn, phu nhân, 2 con gái, con rể là Phạm Ngũ Lão, Nam Tào, Bắc Đẩu và 4 bài vị thờ các con trai của ông cùng 2 gia tướng là Yết Kiêu và Dã Tượng.



Lễ hội xưa bắt đầu từ ngày 16/8 đến ngày 20/8 âm lịch hằng năm. Nay đã khác, hội bắt đầu sớm hơn và kết thúc muộn hơn, tuy nhiên trọng hội vẫn là ngày 18 tháng 8. Khách không chỉ đến Kiếp Bạc vào ngày hội mà quanh năm suốt tháng với số lượng ngày càng đông. Đền Kiếp Bạc còn ngày lễ trọng thứ hai vào 28/9, ngày mất của Thiên Thành công chúa-phu nhân của Đại vương, nhưng ngày này không thành hội , chỉ có hai làng sở tại tổ chức tế lễ cùng vài đoàn khách xa.

Phần lễ: Ngày 10 tháng 8 làm lễ mở cửa đền, chuẩn bị cho lễ hội hằng năm, đây là môt việc làm chiếu lệ, thực tế thì đền ngày nào cũng mở cửa tiếp khách.



Lễ vật khai hội: Làng Vạn sắm 8 mâm, mỗi mâm một lợn sống khoảng 70-80kg, đại diện cho 8 giáp. Dược Sơn 4 mâm tương tự, đại diện cho 4 giáp. Về bánh trái có: Bánh trong, bánh bột lọc, bánh chằng gừng, bánh rán, bánh phu thê, xôi mầu và mâm ngũ quả.
Dulichgo
Trên đây là lễ vật của hai xã sở tại theo lệ, còn lễ vật của khách thập phương, quan lại các cấp thì có thể nói, cuộc sống đương đại có gì quý báu thì trên mâm lễ có thứ đó. Riêng dân chài lưới ở vùng duyên hải về hội, thường có lợn quay hay lợn sống để cả con, tế lễ xong mang xuống thuyền làm cỗ, ăn dần trong những ngày hội.

Ngoài ra, tại đền Kiếp Bạc vào năm 2006, chính quyền chính thức công nhận hình thức sinh hoạt tín ngưỡng lên đồng. Những người theo tín ngưỡng lên đồng thờ Thánh Trần được gọi là Thanh Đồng. Hiện nay lên đồng Trần Triều diễn ra thường xuyên tại đền Kiếp Bạc.

Du lịch, GO!

Thứ Ba, 4 tháng 8, 2015

Động Hua Mạ (Bắc Kạn)

Động Hua Mạ, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn nằm trên lưng chừng núi, bên trong có nhiều nhũ đá đẹp được hình thành tự nhiên qua hàng triệu năm với những dáng vẻ sinh động, hấp dẫn.Ở phía Nam hồ Ba Bể, bên bờ sông Lèng thuộc địa phận xã Quảng Khê, huyện Ba Bể, ngọn núi Cô Đơn sừng sững nằm giữa khu Lèo Pèn (Rừng Ma) cây cối xanh rì, rậm rạp.Giữa lưng chừng núi, có một hang động lạ ăn sâu vào lòng núi chạy theo hướng Đông - Nam quanh năm u tịch. Người dân địa phương gọi là hang Lèo Pèn, gắn với một sự tích vô cùng linh thiêng và đậm chất ly kì, bí hiểm.


Theo lời kể của những người dân sinh sống nơi đây thì Rừng Ma xưa kia là nơi ma quỷ ngự trị. Cứ vào buổi chiều tà, tiếng kêu hú từ phía hang động Hua Mạ vọng ra gây chấn động cả một vùng cho đến tận đêm khuya, dân chúng trong vùng không ai dám đi lại trong thời điểm đó.
Ngày đó có một vị tướng triều đình đi tuần thú qua đây, khi đến bờ sông Lèng thì trời đã gần tối. Đoàn người ngựa định sang bản bên để nghỉ lại, nhưng lạ thay, khi qua sông Lèng, cứ xuống đến nước thì ngựa lại quay đầu trở lại, hí vang như báo hiệu một điều gì đó không bình thường.
Cùng lúc đó từ phía hang Lèo Pèn, tiếng hú, tiếng oan hồn kêu khóc vọng ra. Thấy sự việc lạ, quan quân cho gọi dân làng đến hỏi thì được biết tiếng kêu đó là những oan hồn của dân binh đã cùng triều đình chống giặc. Họ đã cố thủ trong hang. Bọn giặc không làm gì được đã bít cửa hang, do đó những oan hồn không được siêu thoát.
Hiểu rõ sự tình, quan quân liền hạ trại ngay cạnh bờ sông Lèng và mổ ngựa, lấy đầu ngựa làm lễ tế trời đất. Lạ thay khi lễ tế vừa xong thì tiếng oan hồn trong động cũng im dần rồi mất hẳn, nơi đó qua năm tháng đã mọc lên những khối nhũ đá rất đặc biệt kỳ vĩ, có chỗ như bông hoa đá, lại có nơi như đức Quan âm bồ tát đưa tiễn thầy trò Tam Tạng đi lấy kinh, có nơi lại như một thủy cung, hoàng cung trong “Buổi thiết triều”.
Từ đó người ta gọi sơn động “Lèn Pèn” là động Hua Mạ hay tiếng địa phương gọi là hang Đầu Ngựa, để ghi nhớ một sự tích kỳ bí và huyền thoại của mảnh đất và con người nơi đây.
Trải qua nhiều năm hoang sơ, u tịch, năm 2004, động Hua Mạ đã được Sở VH-TT&DL Bắc Kạn và Ban Quản lý vườn quốc gia Ba Bể đưa vào khai thác, biến Hua Mạ trở thành một điểm đến của du khách gần xa.
Với độ cao 350m so với mặt nước biển, từ chân núi Cô Đơn, du khách theo các bậc cầu thang trên sườn núi dốc thoai thoải là tới cửa động. Động Hua Mạ có chiều dài tới hơn 700m, trần động có chỗ rộng và cao tới 40 – 50m, chứa đựng nhiều vách, nhũ đá lung linh kỳ vĩ. Bước chân vào động, không gian thoáng đãng do lòng hang rộng và thông nhau đã tạo cho du khách cảm giác mát mẻ, dễ chịu.
Nhiều du khách khi đến thăm Hua Mạ đã cho rằng, so với những sơn động đã được khám phá tại Việt Nam như Thiên Cung, Phong Nha – Kẻ Bàng… thì động Hua Mạ mới thực sự là hang động đệ nhất kỳ quan.
Tùy theo trí tưởng tượng của mỗi người, mỗi nhũ đá hiện ra với dáng vẻ khác nhau: nơi đây là cảnh thầy trò Đường Tăng, chỗ kia là buổi thiết triều, rồi đường sang Tây Trúc, tháp bút, hoa sen… Các nhũ đá trắng, đen ánh lên các màu lung linh huyền ảo từ phía trên hang động rủ xuống, từ mặt đất nhô lên tạo ra cảm giác rất thú vị.
Để phục vụ khách du lịch thăm quan, chiêm ngưỡng vẻ đẹp của động, bên cạnh việc chú trọng bảo tồn và phát triển cảnh quan tự nhiên của động, tỉnh Bắc Kạn cũng đã đầu tư mở đường lên động, đường tham quan và hệ thống đèn chiếu sáng. Trong định hướng phát triển du lịch tỉnh Bắc Kạn, động Hua Mạ cùng với hồ Ba Bể và Bản dân tộc Pắc Ngòi sẽ hình thành nên một quần thể du lịch tổng hợp trọng điểm của tỉnh.
Tuy nhiên, với vẻ đẹp và sự hấp dẫn hiếm có của mình, động Hua Mạ hiện nay vẫn chưa thu hút được đông đảo khách du lịch. Bên cạnh đó, công tác bảo tồn thắng cảnh vẫn chưa được quan tâm thích đáng, đặc biệt là các dịch vụ thiết yếu dành cho du khách khi có dịp viếng thăm nơi đây./.

Chùa Xiêm Cán (Bạc Liêu)

Chùa Xiêm Cán thuộc xã Hiệp Thành, cách TP Bạc Liêu trên 10km, không xa vườn nhãn nổi tiếng của Bạc Liêu.Chùa Xiêm Cán là một trong những ngôi chùa Khmer được liệt vào hàng lớn nhất, đẹp nhất và lộng lẫy nhất trong hệ thống chùa Khmer ở Nam Bộ. Với những kiến trúc độc đáo, tuổi đời hơn một thế kỷ tạo cho du khách những ấn tượng khó quên khi đến tham quan.



Chùa Xiêm Cán là ngôi chùa thuộc hệ phái Phật giáo Tiểu thừa của đồng bào dân tộc Khmer. Tuy nhiên tên chùa không phải là tên Khmer như nhiều người nghĩ mà đó là tên tiếng Tiều Châu, Quảng Đông, Trung Quốc.
Chùa Xiêm Cán tọa lạc trong khuôn viên rất rộng, bao quanh bằng bức tường rào chạm khắc Rắn thần và nhiều hoa văn sặc sỡ, đẹp mắt. Trong khuôn viên là rừng sao, dầu ngay ngắn, thẳng hàng. Cổng chùa đúc nổi nhiều hoa văn tỉ mỉ cùng có một màu vàng đất dịu mắt, đậm sắc thái Khmer. Con đường từ cổng vào trung tâm chùa dài khoảng 100m, bằng xi măng, sạch sẽ, trang nghiêm giữa hai hàng sao tỏa bóng mát rượi.

Cổng chùa Xiêm Cán

Chùa Xiêm Cán xây dựng vào năm 1887, là một quần thể kiến trúc gồm chính điện, sala, nhà ở của các sư sãi, tháp đựng hài cốt, am… Chính điện là tòa nhà thờ chính trong chùa, nằm ở vị trí trung tâm khuôn viên trên nền cao 1,5 mét, được chia làm nhiều cấp bậc và có hành lang bao xung quanh. Trong chính điện có hai hàng cột cao và to nâng đỡ mái chùa. Mái chùa được cấu trúc thành nhiều tầng lớp chồng lên nhau, tạo ra khoảng không gian cao vút, hòa với đỉnh nhọn như một chóp tháp.

Chùa mang kiến trúc Angkor của người Campuchia
Bên trong chính điện là một bàn thờ Phật với một tượng Phật to lớn đặt cao hơn hết. Bên dưới là tượng Phật trong nhiều tư thế khác nhau, các thời kỳ hóa thân của Phật. Bàn thờ Phật được trang trí với nhiều hoa văn, điêu khắc phong phú, phức tạp. Trên vách, trên trần và các cột chùa được trang trí bằng nhiều màu sắc, bằng các phù điêu bích họa. Đặc biệt là các bích họa kể lại cuộc đời của Phật và chuyện Riêm – kê tức trường ca Ra-ma-za-ma.


Bên trong điện thờ trưng bày nhiều bức vẽ về quá trình khổ luyện của Đức Phật
Du khách sẽ ngỡ ngàng trước một khuôn viên chùa bao la rộng lớn. Khoảng cách giữa các hạng mục này cách nhau cả trăm mét. Một không gian yên tĩnh, bầu trời trong xanh, nắng vàng soi qua kẽ lá, tiếng chim hót văng vẳng từ xa, không khí lại trong lành, không hề nhuốm chút bụi trần… làm cho tâm hồn du khách cảm thấy thư thái lạ thường.
Chùa Xiêm Cán với kiến trúc độc đáo trên một khuôn viên rộng lớn

Chùa Xiêm Cán có sa-la (giảng đường, nhà hội) xây mới vào năm 1997. Trên sa-la có khắc tượng hình Xa-nặc dắt con bạch mã Kiền-đặc đưa Thái tử Si-đạt-ta qua sông đến đất A-nô-ma tìm đường giác ngộ. Trong sa-la có bàn thờ Phật và bàn ghế, sàn ván để tín đồ bàn bạc trước khi lên chánh điện. Vách trần sa-la được trang trí các họa tiết, bích họa khá công phu. Hai bên chánh điện là nhiều tháp cốt và một nhà hỏa thiêu. Trong khuôn viên chùa có trường dạy chữ Khmer, chữ Pali, dạy kinh…, là nơi lưu giữ các tập truyện kể dân gian và các vốn văn hóa truyền thống cho con em phật tử.


Chùa Xiêm Cán có sa-la là nơi sư sãi nghỉ ngơi
Khi vào chùa, khách thăm viếng phải bỏ mũ nón, đi chân không,… Chùa là nơi thể hiện rõ nét những tập tục, rõ nét hơn cả là lòng hiếu khách của con sóc – điều mà khách du lịch rất được vui lòng những khi một lần ghé đến cũng như những bản sắc văn hóa của dân tộc Khmer Nam Bộ.


Thứ Tư, 29 tháng 7, 2015

Chùa Phật Đà (Hà Tiên)


Chùa Phật Đà thường được gọi là chùa Lò Gạch, tọa lạc ở số 32, đường Mạc Cửu, phường Bình San, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Chùa thuộc hệ phái Bắc tông.

Chùa nằm dưới chân núi Bình San, cạnh lăng Mạc Cửu. Xưa kia, nơi đây có cái lò gạnh bị bỏ hoang. Đến năm 1945, trên bước vân du hành đạo miệt Hà Tiên, Hòa thượng Thích Chí Hoà, (thế danh Nguyễn Văn Tịnh) đã dừng chân tại chỗ này và lập nên một ngôi chùa nhỏ bằng cây lá mang tên là Tịnh Xá Chí Hòa. Và vì cái lò gạch được sử dụng làm chánh điện, để tụng kinh bái sám, nên dân địa phương gọi là Chùa Lò Gạch.



Trong thời gian trụ xứ và giáo hoá tại bổn tự, Hòa thượng đã mở mang khu vực xung quanh và xây cất thêm nhiều am tranh tịnh thất để tiếp Tăng độ chúng.

Năm 1949, Hòa thượng cùng với vài đệ tử sang Campuchia để hoằng pháp. Một năm sau đó, Ngài trở về lại quê hương và tham gia kháng chiến chống Pháp. Năm 1954, Hòa thượng viên tịch tại Bà Rịa-Vũng Tàu. Người kế vị trụ trì là Hòa thượng Thích Quảng Tấn.



Ngài Quảng Tấn thế danh là gì, sanh năm nào, ở đâu, hành trạng ra sao, không ai rõ. Chỉ biết rằng sau khi Ngài Quảng Tấn tịch thì bà Dương Thị Thoàn, pháp danh Diệu Trí, người bí mật hoạt động cách mạng với bí danh là Trần Thị Thanh đã đến ở và coi sóc chùa.

Năm 1993, theo nguyện vọng của bà Diệu Trí và Phật tử ở đây, Ban trị sự Tỉnh hội Phật giáo Kiên Giang đã bổ nhiệm Đại đức Thích Huệ Tâm, trú xứ chùa Phước Hưng (Sa Đéc) về trụ trì và đổi tên ngôi Tịnh xá thành Chùa Phật Đà. Do vì trải qua một thời gian dài không người tu bổ nên ngôi Tam bảo vốn hư cũ ngày càng thêm xuống cấp nặng. Thế nên vào tháng 9/1993, thầy trụ trì đã cho khởi công trùng tu, xây dựng mới lại ngôi đạo tràng này.



Năm 1998  với tâm thiết tha quy ngưỡng đường lối tu Thiền của Thiền sư Thích Thanh Từ, thầy xin nhập chúng tu học với Thiền sư tại Thiền viện Trúc Lâm Phụng Hoàng – Đà Lạt. Đến năm 2000, vì bệnh duyên nên thầy phải trở về trụ xứ. Cũng trong thời gian này, thầy được Tỉnh hội bổ nhiệm làm Chánh đại diện Phật giáo thị xã Hà Tiên cho đến nay.

Năm 2009, chùa được trùng tu lại rất khang trang với đầy đủ các phòng nhà cần thiết cho sự sinh hoạt của một Tòng lâm. Mặc dù cơ sở không qui mô nhưng với lối kiến trúc hài hòa, chùa Phật Đà đã góp vào cụm thắng tích “Bình San Điệp Thúy” một danh lam Phật tự thật trang nghiêm, thanh nhã.



Chùa Phật Đà là một công trình nghệ thuật kiến trúc Phật giáo rất độc đáo, giàu tính thẩm mỹ, vừa cổ kính, lại vừa hiện đại làm tăng thêm vẻ đẹp nên thơ của thắng cảnh Bình San điệp thúy ở vùng đất Hà Tiên thập cảnh.

Chùa có kiến trúc theo hình chữ “nhất” mang đậm bản sắc Á Đông, được phối hợp giữa nét kiến trúc cổ và kỹ thuật hiện đại. Quần thể kiến trúc chùa bao gồm chánh điện, nhà thờ tổ, đông lang và tây lang, nhà phương trượng và tăng phòng. Chánh điện chùa có kiểu lò nung gạch, bên trong có tượng một vị bồ tát cầm phương trượng, nét mặt từ bi, tự tại mang hình tượng ngài Mục Kiền Liên đi tìm mẹ ở chốn âm cung.



Khác với kiến trúc thông thường ở các ngôi chùa Việt, chùa Phật Đà không có cổng tam quan, thay vào đó là hai cánh cổng được thiết kế hai bên theo mô típ kiến trúc cổng chùa của xứ Hàn. Điểm nhấn nổi bật của chùa là cây bồ đề nằm chính diện trước sân có niên đại hơn 60 năm.

Dưới gốc bồ đề tôn trí pho tượng Phật Thích Ca với tư thế tọa thiền, điều kỳ lạ là cội rễ của cây bồ đề bao trùm lên bệ tượng và đưa pho tượng lên cao hơn so với vị trí ban đầu. Thân cây có đường kính khoảng 1,5m, nhánh và tán lá xum xuê nhưng toàn bộ cội rễ đều mọc ra phía trước và hai bên mà không hề mọc vào trong sân chùa. Nhiều nhà thực vật học phải thán phục và không hề giải mã được điều kỳ lạ này.



Quả là:

“Đây chùa Lò Gạch núi Bình San
Một thuở hoang vu gội gió ngàn
Núi nhỏ um tùm cây cỏ dại
Chùa quê quạnh quẽ bóng trăng tàn
Nhân duyên pháp Phật hoa thiền nở
Cảnh trí Không môn rợp nắng vàng
Sớm vọng chuông ngân tan niệm tục
Chiều vang mõ nhịp cõi lòng an.”
Du khách đến tham quan Hà tiên thập cảnh, hành hương chiêm bái danh lam thắng cảnh nơi đây thường ghé vào chùa viếng thăm lễ Phật.

Chùa Phật Đà không chỉ đẹp về lối kiến trúc độc đáo mà còn là một không gian thiền định, một chốn thiêng liêng của cõi Phật đường. Nơi đây, nền văn hóa Việt Nam nói chung và giá trị văn hóa, tín ngưỡng tâm linh Phật giáo nói riêng được tôn vinh và gìn giữ.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ báo Giác Ngộ, NTO

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên)


Chùa Tam Bảo nằm ngay trung tâm thị xã Hà Tiên, tọa lac tại số 75* Phương Thành, phường Bình San, thị xã Hà Tiên - tỉnh Kiên Giang.
Chùa Tam Bảo còn có tên gọi là chùa Tiêu, là một trong 10 cảnh đẹp từng được Mạc Thiên Tứ ca ngợi qua bài vịnh Tiêu Tự Thần Chung khá nổi tiếng. Chùa được triều đình nhà Nguyễn ban biển sắc phong nên còn được gọi là Sắc Tứ Tam Bảo Tự.

Theo sách Mạc Thị Gia Phả, sau khi triều đình nhà Thanh được thành lập tại Trung Hoa, một vị quan trung thành với nhà Minh là Mạc Cửu đã rời bỏ quê hương trôi dạt xuống vùng Đông Nam Á.



< Cổng chùa.

Năm 1695, ông thần Phục vua Chân Lạp và xin được đến khai phá vùng Mang Khảm. Đến năm 1714, Mạc Cửu xin sát nhập Mang Khảm vào xứ Đàng Trong. Chúa Hiển tông Nguyễn Phúc Chu đồng ý phong cho Mạc Cửu chức Tổng binh, sau phong Cửu Lộc hầu. Vùng Mang Khảm sau đó được đổi thành trấn Hà Tiên.

Sau một thời gian gầy dựng Hà Tiên, thân mẫu của ông là Thái Thái phu nhân cũng được đưa đến đây. Năm 1730, để có nơi chốn cho mẹ tu hành trong những năm cuối đời, Khai trấn Cửu Lộc Hầu Mạc Cửu đã cho xây dựng chùa Tam Bảo sau khi Thái Thái phu nhân quy y với Hòa thượng Ấn Hạ thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 35.



Tu hành được một thời gian, Thái Thái phu nhân tọa hóa trước Phật Đài. Mạc Cửu cho đúc kim thân của mẹ để thờ, đúc một Đại hồng chung để cúng và nghe tiếng chuông mà tưởng niệm mẹ hiền. Năm 1735, Mạc Cửu qua đời, con ông là Mạc Thiên Tứ (hay Mạc Thiên Tích) thay cha làm Đô đốc Tổng binh. Chính ông đã ca ngợi cảnh đẹp của chùa Tam Bảo Hà Tiên qua bài thơ Tiêu tự thần chung trong Hà Tiên thập vịnh.

Đời trụ trì đầu tiên của chùa Tam Bảo là hoà thượng Ấn Hạ cũng là vị hoà thượng khai nguyên cho Phật giáo xứ Hà Tiên.



Đến nay, chùa Tam Bảo đã trải qua 19 đời trụ trì là những vị chân tăng như hoà thượng Hoà Quang, thiền sư Nhất Đới, thiền sư Trí Tàng, thiền sư Hoằng Ân, thiền sư Hải Huệ, thiền sư Giác Ngạn, thiền sư Như Đức, thiền sư Như Khả, thiền sư Phước Chơn, hoà thượng Thuần Hạnh, Yết ma Phước Thành, hoà thượng Phước Ân (1920 - 1946), hoà thượng Phước Quang, hoà thượng Quảng Đức, hoà thượng Vĩnh Đạt, hoà thượng Chánh Định, thượng tọa Thiện Giác (1960 - 1974) và từ năm 1974 đến nay là ni sư Thích Nữ Như Hải (thế danh Huỳnh Thị Phước).

Từ ngày thành lập đến nay, chùa Tam Bảo đã được trùng tu nhiều lần do ngôi chùa xưa đã hỏng, chỉ còn dấu vết ở các bức tường thành. Hai lần trùng tu được xem là lớn nhất là trong thời gian trụ trì của hoà thượng Phước Ân (1920 - 1946) và trong thời gian trụ trì của ni sư Như Hải từ 1974. Lần trùng tu lớn thứ 1 là vào năm 1930, hoà thượng Phước Ân đã cho xây dựng lại chùa Tam Bảo với dáng vẻ khang trang uy nghiêm như ngày nay và cho trồng một số cây sao đến nay đã trở thành cổ thụ.



< Di Mẫu và 6 vị Tỳ kheo ni trước sân.

Lần thứ 2, sau khi được cử về trụ trì chùa Tam Bảo, ni sư Như Hải đã bắt đầu cho kiến tạo và trùng tu một số công trình như An vị Đức Quán Thế Âm Bồ Tát lộ thiên cao 5 m, nặng 7 tấn (1974), Lợp lại mái ngói Chánh điện và Nhà Tổ (1979), An vị tôn tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn (1987), An vị Đức Bổn sư Thích Ca ngồi dưới cội Bồ đề (1983), xây dựng cổng Tam quan, phục chế bức tường đã sụp đổ và chỉnh trang cảnh quan xung quanh chùa (1992), an vị đài Di Lặc năm 2000 ở sân giữa chùa, an vị tượng Di Mẫu và 6 vị Tỳ kheo ni năm 2003  ở sân trước chùa.



Điện Phật được bài trí trang nghiêm. Vị trí cao nhất thờ tượng Di Đà Tam Tôn. Pho tượng đức Phật A Di Đà bằng đồng, cao 1,40m, do ông Mạc Cửu cúng, được tôn trí ở giữa, hai bên đặt tượng Bồ tát Quán Thế Âm và Bồ tát Đại Thế Chí.

Kế tiếp có tượng đức Phật Thích Ca thành đạo, đức Phật Thích Ca khuyến thiện, tượng Thích Ca đản sanh và tượng đức Phật nhập Niết bàn. Đối diện bàn thờ Phật, có bàn thờ tượng Bồ tát Phổ Hiền, Hộ Pháp, Bồ tát Địa Tạng và Tiêu Diện.


< Tháp mộ Thái Thái Bà Bà ở sau chùa.

Ở sân trước chùa còn có phòng phát hành kinh sách, tranh tượng Phật giáo đa dạng, phong phú. Chung quanh chùa còn rải rác nhiều bức vách xây hồ tam hạp, cũ kỹ nhưng chắc chắn. Tính ra, bức tường cổ này đã tồn tại gần 300 năm ròng.

Trước cổng chùa có đôi câu đối:
Nhất trần bất nhiễm Bồ Đề địa.
Vạn thiện đồng quy Bát Nhã môn.

Tạm dịch:
Cõi bồ đề không nhiễm một hạt bụi trần,
Cửa bát nhã hội tụ vạn điều tốt đẹp.

Chùa đã được Mạc Thiên Tứ miêu tả trong bài xướng Tiêu tự thần chung:

Tàn tinh tiêu lạc hướng thiên phao,
Mậu dạ kình âm viễn tự xao.
Tịnh cảnh nhân duyên tỉnh thế giới,
Cô thanh thanh việt xuất giang giao.
Hốt kinh hạc lệ nhiễu phong thụ,
Hựu xúc ô đề ỷ nguyệt sao.
Đốn giác thiên gia y chẩm hậu,
Kê truyền hiểu tín diệc liêu liêu.

Bản dịch của Đông Hồ:

Tượng Phật nằm - Ảnh: Hoàng Chí Hùng
Lác đác trời tàn nhạt sánh sao,
Chuông chùa xa vẳng tiếng đưa vào.
Mơ màng cõi tục người tiên lẫn,
Đồng vọng bờ cây bến nước xao.
Hạc để tiếng vương cành gió thoảng,
Quạ đưa lời gởi ngọn trăng cao.
Gối nghiêng giấc tỉnh đêm mê mộng,
Sớm giục canh gà tin khát khao.

< Dấu tích tường cổ còn lại.

Chùa Tam Bảo là một trong những thắng cảnh của xứ Hà Tiên, từng được ca ngợi qua bài vịnh Tiêu tự thần chung của Mạc Thiên Tích. Ngôi chùa ngày nay tuy không còn giữ được lối kiến trúc ban đầu, nhưng vẫn mang dáng vẻ thanh u, tĩnh mịch của chốn tu hành.

Du lịch, GO! - ảnh internet

Thứ Ba, 28 tháng 7, 2015

Chùa Sùng Khánh (Hà Giang)


Chùa Sùng Khánh là tên gọi khác của chùa Báo Thiên. Chùa nằm trên quốc lộ 2 trên tuyến đường Hà Giang đi Hà Nội, ở Km số 9 thuộc thôn Làng Nùng, xã Đạo Đức huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.
Đây là ngôi chùa gắn liền với lịch sử, hệ tư tưởng Phật giáo thời Lý - Trần thế kỷ 14.
Chùa Sùng Khánh do chú Phụ Đạo (Tù trưởng) Nguyễn Ẩn xây vào thời Triệu Phong (năm 1356), năm 1705 chùa được trùng tu. Năm 1989 chùa được xây dựng lại trên nền cũ. Năm 1993, chùa Sùng Khánh được xếp hạng di tích lịch sử và đến năm 1999, chùa được công nhận di tích lịch sử cấp Quốc gia. Chùa Sùng Khánh có diện tích khoảng 26m2, được xây dựng trên một địa thế đẹp, sau lưng chùa là núi, trước mặt là đồng ruộng và dòng suối.



Trong chùa Sùng Khánh hiện không có tượng Phật mà chỉ có một ban thờ ở gian giữa, 2 gian bên dựng 2 bia đá; 1 bia thời Trần, 1 bia thời Lê và treo một quả chuông đồng lớn thời Lê.

Quả chuông đồng trong chùa Sùng Khánh cao 0,90m, rộng 0,67m, được đúc vào thời Hậu Lê (1705) cùng 2 bia đá thời Trần và thời Lê ghi lại công lao của người sáng lập và trùng tu chùa. Nghệ thuật khắc trên đá, trên chuông đồng và kỹ thuật đúc chuông là một bằng chứng lịch sử phát triển thời Trần và Lê ở tận vùng biên cương Hà Giang.

Bia thời Trần trong chùa Sùng Khánh được dựng trên lưng rùa (rùa có bề ngang rộng 55cm, chiều dài 95cm). Bia đá dẹt, 2 mặt được bào nhẵn, dày 10,5cm, thân cao 90cm và bề ngang là 47cm. Trán bia là hình bán nguyệt, ở giữa chạm hình Phật ngồi trên toà sen, bên cạnh có 1 đệ tử đứng chắp tay trước ngực. Hai góc trên trán bia là hai hình rồng chầu, đầu rồng vươn cao về phía toà sen. Xung quanh thân bia được trang trí đường diềm hoa dây, phía dưới chân bia là hình sóng. Trên cột dọc ở đầu văn bản có khắc 7 chữ Sùng Khánh tự bi minh tính tự. Văn bản chữ Hán khắc ở mặt trước bia gồm bài tựa và bài minh và dòng lạc khoản, mặt sau bia chỉ có 2 dòng chữ Hán xen Nôm ghi việc cúng ruộng và nô tì cho chùa.

Nội dung văn bia như sau: "... chùa Sùng Khánh ở hương Hoằng Nông, giang Thông, trường Phí Linh là do người chú của vị Phụ đạo họ Nguyễn tên là Ẩn, tự là Văn Giác sáng lập ... Ông không thích chăm lo sản nghiệp riêng mà lại ham cứu giúp người khác lúc khó khăn, lòng thì hâm mộ đạo Phật, không ăn thịt, không uống rượu, mỗi tháng ăn chay 10 ngày và đọc kinh, lấy đó làm lệ thường. Hương này vốn không có chùa, lại ở nơi hẻo lánh, núi non sầm uất, có suối trong tuôn chảy, ông thấy mến cảnh, bèn dựng chùa làm nơi hương khói sớm hôm. Chùa được dựng từ tháng riêng đến tháng tư năm Bính Thân (1356) niên hiệu Thiệu Phong thì hoàn thành, đặt tượng phật vào. Ông lại đặt tên chùa là Sùng Khánh, lại cúng vào chùa một viên (mẫu) ruộng để cấp cho người trụ trì".



Văn bản mặt sau của bia ghi " Quyền Phụ đạo Nguyễn Thiên Trượng và Văn Giác cư sĩ cúng thí ruộng ở xứ Nà Nộn 1 viên (mẫu)... Ngô Thiện cư sĩ cúng dâng hai nô tì là Thằng Đại và Mỹ Am cùng một con trâu làm của Tam bảo".
Văn bia và chuông đồng thời Lê được làm vào năm Vĩnh Thịnh thứ nhất (1705), nội dung văn bản ghi lại việc trùng tu chùa Sùng Khánh vào thế kỉ 17, đầu thế kỉ 18 do hoàng tộc nhà Mạc lánh nạn ở Cao Bằng thực hiện.
Vào ngày 15 tháng Giêng âm lịch hàng năm, tại chùa Sùng Khánh thường diễn ra lễ hội Lồng Tồng của người Tày để ghi nhớ và tỏ lòng biết ơn các vị thần.

Theo Coviet.vn
Du lịch, GO!

Thứ Hai, 27 tháng 7, 2015

Tháp cổ trên núi Đề Liêm (Hà Tiên)


Chúng tôi đến bãi biển Hà Tiên để chiêm ngưỡng hòn Phụ Tử và còn để nghe kể về những câu chuyện huyền bí bao phủ ngôi tháp cổ. Hỏi thăm người dân địa phương, chúng tôi đã đến được phường Bình San, thị xã Hà Tiên “trên bến dưới thuyền”, tỉnh Kiên Giang mảnh đất tận cùng phía Tây Nam Tổ quốc.

Từ chân núi Đề Liêm, vượt qua một nghĩa địa rêu phong cũ kỹ, leo con dốc khá cao chừng 70m mới đến ngôi tháp cổ 7 tầng có trên 300 năm tuổi.


Ngôi tháp  được ôm gọn lọt thỏm giữa cây bồ đề già nua nhằng nhịt thân rễ trông đã rất cổ kính và nhuốm màu huyền thoại. Bên trong tháp trống rỗng, các cụ già cao tuổi cho rằng tầng một, nằm sâu trong lòng đất vẫn còn ngọc vị của vị sư trụ trì đầu tiên.

Vị sư trụ trì  hiện nay tiếp chúng tôi tuổi đã cao, da dẻ  đỏ au, là một pho chuyện kể mãi không hết về những câu chuyện sắc sắc, không không đã trở thành thần linh trấn giữ phần đất phương Nam linh thiêng này.



Theo nhà sư cho biết, khi những cư dân đầu tiên tìm đến mở mang, khai khẩn vùng đất “trên núi, dưới biển” này đã thấy ngôi mộ tháp 7 tầng, trên đỉnh tháp mọc một cây bồ đề. Chính xác ngôi tháp có 9 tầng, nhưng trải qua thời gian mưa nắng, đất đá trên đỉnh núi trôi xuống lấp hết 2 tầng dưới, chỉ còn thấy 7 tầng, nên người ta gọi luôn là “tháp 7 tầng“. Trước cửa tháp có tấm bia đá khắc dòng chữ Hán: Lâm tế tam thập lục thế. Ẩn Đàm Lão hòa thượng chi tháp” (tháp mộ của Lão hòa thượng Ẩn Đàm, dòng Lâm Tế đời thứ 36). Cạnh đó lại có tấm biển xi măng khắc dòng chữ Việt “ Lâm Tế/1962/tháp 7 tầng/Ẩn Đàm/Lão hòa thượng”. Ngôi tháp hình bát giác trên núi Đề Liêm nên người xưa còn gọi núi Đề Liêm là Bát Giác sơn. Bên cạnh tháp còn có chùa của dòng Lâm Tế do hòa thượng Ấn Đàm trụ trì, gọi là chùa Phù Dung. Tuy nhiên tên chính của chùa vẫn được gọi là Tiêu Sơn tự.

Trước khi đến tìm hiểu ngôi tháp này, tôi đã được nghe kể về những câu chuyện kỳ bí quanh ngôi tháp 7 tầng này. Tôi hỏi nhà sư về những câu chuyện “truyền miệng” bao phủ lên ngôi tháp cổ. Nhà sư phóng tầm mắt xuống con dốc dài, nhưng  có nhiều đoàn khách thập phương đang hành hương lên ngôi tháp cổ, thắp nén nhang, lâm râm khấn vái cầu xin những điều tốt lành, nhà sư tâm sự: “Nếu nói là chuyện “truyền miệng” thì có thể thật, có thể bịa, vì “ tam sao thất bản” cùng thời gian, hoặc do con người thêm mắm, thêm muối cho… thêm phần ly kỳ hấp dẫn.



Nhưng những câu chuyện tôi kể cho anh nghe là chuyện “đương đại” mới xảy ra không xa. Tin hay không là tùy ở anh. Nhà sư chỉ tay sang bên kia biên giới xót xa nói: “Những chuyện đau lòng bắt đầu xảy ra khi những sòng bạc mọc lên như nấm bên kia biên giới Xà Xía. Nhiều người vẫn không hiểu câu “đánh bạc là bác thằng bần” nên vẫn đua nhau vượt biên tìm miền đất hứa với hy vọng hốt bạc  làm giàu. Nhưng giàu đâu chẳng thấy, đến khi “cháy túi”, nhiều người phẫn chí, tủi hổ đã tìm đến đây tự tử. Song, cửa từ bi hỉ xả, vị thần linh của ngôi tháp không muốn chứng kiến cảnh chết chóc diễn ra ở đây, đã ra tay cứu sống hoặc giúp họ bỏ ý định tìm đến cái chết trốn chạy cuộc đời.

Một ngày nọ, có một phụ nữ trung niên đến ngồi cạnh tháp khóc sướt mướt suốt một ngày, một đêm rồi bỏ đi. Người ta đã tìm thấy ở chỗ cô ngồi một bức thư tuyệt mệnh, cùng lọ thuốc diệt chuột. Đọc thư mới biết cô tên là H., ở miệt Rạch Giá đi buôn cá, mực khô ở Hà Tiên. Nghe lời bạn xúi giục, H. mang tiền sang nướng vào sòng bạc thử vận may. Sau những ngày thử vận đỏ đen, H. nhẵn túi. Quẫn chí, cô tìm đến ngôi tháp cổ để kết thúc cuộc đời. Nhưng khi ngồi dưới gốc cây bồ đề, H. đã tĩnh tâm nghĩ lại nên đã bỏ ý định tự vẫn để về với cuộc đời.



Lại có một anh thanh niên tên là H ở Tô Châu thua bạc bên Casino, Campuchia liền leo lên đỉnh tháp, xé áo làm thòng lọn treo cổ. Nhưng khi anh ta chui đầu vào thòng lọng để kết thúc mọi chuyện thì thòng lọng bị đứt, anh ta rơi xuống đất, nằm quay lơ bất tỉnh nhân sự, may được người dân phát hiện đưa đi bệnh viên cấp cứu kịp thời nên thoát chết…
Đang trong câu chuyện với chúng tôi, một người đàn ông chạc tuổi “ xưa nay hiếm” bước vào, nhà sư tạm dừng câu chuyện mời ông ngồi xơi nước. Nhà sư giới thiệu: “Đây là ông Lương Phềnh Cang, cán bộ ngành bưu điện đã nghỉ hưu, ngụ tại khu phố 1, phường Bình San, người trong cuộc, cùng 10 nạn nhân khác thoát chết một cách kỳ lạ trong vụ diệt chủng của bọn “cướp ngày” Pôn Pốt khi chúng lấn chiếm sang đất Hà Tiên năm 1978. Tôi xin nhường lời cho “nhân chứng lịch sử”.

Nghe nhà sư nói vậy, ông  Cang trầm ngâm một lúc như để sống lại câu chuyên xưa, rồi ông chậm rãi kể: “Còn nhớ khi đó là vào nhập nhoạng chiều 13-3- 1978, một số người dân biên giới Xà Xía và chợ Hà Tiên hay tin quân Pôn Pốt tràn sang lãnh thổ nước ta, vội dọn đồ đạc chạy lánh nạn. Những người không chạy kịp bị bọn Pôn Pốt giết hại rất dã man. Dưới chân núi Đề Liêm hồi đó còn thưa người, chỉ có 4 gia đình của ông Trần Kim Sáu, bà Thìn, ông Niêng và tôi sinh sống. Khi nghe thấy tiếng súng AK và tiếng kêu cứu thất thanh của người dân xóm ngoài thì đã muộn. Cả mấy gia đình, trong đó có 5 trẻ em vội chui vào lòng tháp ẩn nấp. Một toán lính Pôn Pốt choai choai 16- 17 tuổi ôm súng AK kéo nhau lên tháp cổ.



< Bên trong tháp cổ.

Nghe tiếng trẻ khóc, chúng vây kín tháp. Một tên bước đến cửa tháp ngó nghiêng vào bên trong, khẩu súng lăm trong tay. Mọi người nép vào nhau run lên bần bật. Ai cũng nhìn thấy đôi mắt lạnh tanh của hắn. Mọi người nhắm mắt chờ chết. Bình thường đứng ở vị trí của tên lính nhìn vào hang thấy rất rõ mọi thứ. Song không hiểu vì lý do mờ mắt, hay lóa mắt mà tên lính Pôn Pôn mặt còn non choẹt  lom khom nhìn vào lòng tháp mà… không thấy gì? Bỗng có tiếng chó sủa vang, tên lính giật mình quay súng xả cả “băng” đạn vào con chó rồi bỏ đi cùng đồng bọn. Mọi người lúc đó mới hoàn hồn. Ai cũng nghĩ được thần linh che chở. Phải chờ đến hôm sau, bộ đội ta phản công tiêu diệt địch, cứu 11 người kiệt sức ẩn nấp trong hang đem về tuyến sau cấp cứu.

Nhà sư cho biết, cách đây mấy năm, bọn lâm tặc ngang nhiên đến chặt cây bồ đề. Khi lưỡi cưa máy ngập sâu vào thân cây mấy phân thì mắc kẹt. Cưa tiếp không được, lấy ra cũng không xong. Một tên trong nhóm hùng hổ lấy búa nện vào thân cây để lấy lưỡi cưa ra. Song khi nhát búa đầu tiên nện vào cây thì bị hút chặt vào thân cây. Cả nhóm hợp lực hò nhau kéo búa ra mà không được. Cuối cùng chúng phải nhờ nhà sư trụ trì đến đốt nhang, đọc kinh, khấn xin. Nhà sư chỉ kéo nhẹ là cả lưỡi cưa lẫn búa đều rơi ra(?). Bọn lâm tặc từ đấy cạch, không dám bén mảng đến đây nữa.



Ngôi tháp cổ trên núi Đề Liêm là một điểm đến của khách du lịch khi dừng chân tại Hà Tiên, chuẩn bị đi tàu thủy tốc hành qua thăm đảo Phú Quốc. Ngôi tháp 7 tầng cần được bảo vệ, tôn tạo cùng những câu chuyện  cũng giống như truyền thuyết tồn tại song song với lịch sử luôn hấp dẫn thế hệ trẻ.

Theo Lê Sĩ  Tứ (An Ninh Thủ Đô)
Du lịch, GO!

Núi Đề Liêm còn có tên gọi khác là núi Phù Dung. Trong “Gia Định thành thông chí” xác nhận, núi Đề Liêm còn tên gọi khác là Bát Giác Sơn. Có lẽ do ngôi tháp có hình bát giác nên người xưa đặt tên núi theo. Bên cạnh ngôi tháp có một ngôi chùa dòng Lâm Tế do Hòa thượng Ấn Đàm trụ trì, gọi là chùa Phù Dung. Tuy nhiên, tên chính của chùa là Tiêu Sơn Tự. Các sử liệu có ghi, từ khoảng năm 1820 (là năm sách “Gia Định thành thông chí” ra đời) trở về sau, trấn Hà Tiên đã trải qua 3 cuộc tao loạn lớn do quân Xiêm xâm lược, gồm: năm 1833 (Minh Mạng thứ 14); tháng 2/1842 (Thiệu Trị năm thứ 2); năm 1845 (Thiệu Trị năm thứ 5).



< Chùa Phù Dung ngày nay.

Ngôi chùa Phù Dung bị quân Xiêm phá sập vào khoảng năm 1833-1834, tức lần tao loạn đầu tiên. Năm 1969, người ta phát hiện ra di tích này. Khi đào sâu xuống nền đất khoảng 3 tấc, người ta bắt gặp rất nhiều vật dụng còn nguyên vẹn, như: cái lư hương bằng đồng, nhiều lọ sành sứ, một cái chum còn nguyên số gạo đã ẩm nát... Sự cố chùa bị sập với các loại gia dụng còn nguyên, cho thấy chiến tranh đã ập đến bất ngờ.

Cách ngôi tháp 40 mét về ở hướng tây nam, bây giờ vẫn còn hiện hữu một giếng xưa gọi là giếng chùa Tiêu. Trong sách “Monogaphie de la povince de Ha Tiên” của Hội Nghiên cứu Đông Dương ấn hành năm 1901 khẳng định ngôi chùa này đúng là Tiêu Sơn Tự - 1 trong 10 cảnh đẹp của Hà Tiên lúc bấy giờ và đã được Mạc Thiên Tứ ca ngợi trong bài thất ngôn bát cú "Tiêu Tự hiểu chung".



Khi những cư dân đầu tiên tìm đến khai khẩn vùng đất này đã thấy ngôi mộ tháp 7 tầng sừng sững với ngọn cây bồ đề trên đỉnh tháp. Mưa làm xói mòn, đất đá trên đỉnh núi trôi xuống lấp dần 2 tầng dưới nên người ta chỉ thấy có 7 tầng trên. Người ta gọi luôn đó là tháp 7 tầng. Xung quanh ngôi mộ tháp, hiện nay vẫn còn những trụ đá móng nền - Dấu tích của một ngôi chùa bị tàn phá. Thời gian dần trôi, cây bồ đề ngày càng lớn. Rễ cây dần phủ kín ngôi tháp cổ theo từng bậc trông rất đẹp mắt. Bên trong lòng tháp trống rỗng. Người ta cho rằng, dưới tầng một vẫn còn ngọc vị của vị sư trụ trì. Tất cả những cứ liệu lịch sử đều khẳng định giá trị ngôi tháp cổ ấy.

Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, bao ngày nắng đêm mưa ngôi tháp cổ đã tròm trèm 300 tuổi. Ngôi tháp không chỉ là một phần của lịch sử khai khẩn phương Nam mà còn là một di tích đánh dấu sự tồn sinh mãnh liệt của ông cha ta, đáng để hậu thế chiêm ngưỡng, tự hào...

Theo CAND
Dulichgo

Bài đăng phổ biến