Hiển thị các bài đăng có nhãn Huế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Huế. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 21 tháng 7, 2015

Phủ Đệ - Nơi lưu giữ Huế xưa


Từ những ngôi phủ đệ, cuộc sống quyền quý của các thành viên hoàng gia trong chốn cung cấm theo đó mà thâm nhập vào đời sống dân gian. Cho dù ở nơi ở mới, cánh cửa phủ đệ vẫn lặng lẽ đóng kín nhưng khoảng cách giữa thường dân với các bậc quyền quý trong cung đã phần nào được khỏa lấp và văn hóa cung đình cũng theo đó mà lan tỏa khắp chốn kinh kỳ.

Du khách đến Huế, dường như ai cũng muốn tham quan những cung điện vàng son một thuở bên trong những vòng tường thành rêu phong cổ kính, hay viếng thăm những lăng tẩm uy nghi của các vị vua triều Nguyễn đang giấu mình dưới bóng cổ tùng nơi vùng đồi núi chập chùng ở phía tây Kinh Thành Huế.



Ít ai chú ý đến những phủ đệ của các ông hoàng bà chúa nằm xen giữa phố thị đông đúc hoặc lẩn khuất nơi thôn dã ở vùng ngoại ô, với những bức tường phủ rêu và những cánh cửa đóng kín quanh năm, như muốn che đậy một thế giới riêng tư của lớp người đã đem đến cho Huế một tính cách không giống ai: tính cách mệ.

Kỳ thực, những phủ đệ ấy từng vang bóng một thời và nay là nơi lưu giữ những ánh hào quang quá vãng của Huế xưa, mà nếu thiếu vắng, thì bức chân dung xứ Huế sẽ trở nên nhạt nhòa vì thiếu những gam màu sâu lắng, cô liêu.



Phủ đệ, chốn ấy là gì?

Phủ đệ, tên gọi chốn ấy, là nơi ở của các vương tôn, hoàng tử và công chúa thời Nguyễn. Phủ là nơi ở của các hoàng thân, hoàng tử sau khi lập gia đình, từ đó mới phái sinh danh xưng phủ thiếp để gọi người vợ của hoàng tử, tức là con dâu của nhà vua. Tùy theo tôn tước của chủ nhân được triều đình tập phong là tước công hay tước vương mà phủ ấy được gọi là công phủ hay vương phủ. Đệ là lối gọi tắt của từ đệ trạch, là nơi ở của công chúa sau khi hạ giá, tức là công chúa đã được gả chồng.

Về sau, người ta thường dùng chữ phủ đệ để gọi chung cho nơi ở của các ông hoàng, bà chúa đã thành thân. Khi những ông hoàng, bà chúa ấy trở thành người thiên cổ, tòa chính đường trong phủ, nơi trú tất của các ông hoàng, bà chúa lúc sinh thời, trở thành nơi thờ tự vong linh của chính họ.



Ấy cũng là lúc con cháu của họ thay biển ngạch đề danh trước cổng, đổi chữ phủ (hay chữ đệ) thành chữ từ hay từ đường, mà dân gian vẫn quen gọi là phủ từ, hàm ý đó là nơi thờ tự vị chủ nhân của phủ đệ xưa, nay đã quá cố.

Mỗi phủ đệ đều có tên riêng, dựa theo tôn tước của chủ nhân. Tên của các phủ thường là tên huyện mà vị thân công, hoàng tử ấy được triều đình tập phong như: Tùng Thiện vương phủ, Tuy Lý vương phủ, Thọ Xuân vương phủ, Định Viễn quận vương phủ, Phước Long quận công phủ, Thường Tín quận công phủ… Tên của đệ trạch thường gọi theo danh hiệu của vị công chúa chủ nhân đệ trạch ấy như: An Thường công chúa đệ, Ngọc Sơn công chúa đệ…



Đầu triều Nguyễn, các phủ đệ đều tọa lạc bên trong Kinh Thành Huế, theo nguyên tắc “nam tả, nữ hữu”, nghĩa là phủ của các thân công, hoàng tử thì ở về phía trái, còn đệ trạch của các công nữ thì ở về phía phải của Kinh Thành. Năm 1846, Tùng Thiện công Miên Thẩm, hoàng tử thứ 10 của vua Thiệu Trị rời Kinh Thành tìm về bên dòng sông Lợi Nông, mua một khoảnh đất rộng, lập nên Tiêu viên, sau đổi là Ký Thưởng viên với 16 sở đường lâu các, rồi rước mẹ là bà Thục Tân từ Tử Cấm Thành về ở với ông để tiện bề phụng dưỡng. Đó là vương phủ đầu tiên nằm ngoài Kinh Thành Huế, mở đầu cho lịch sử hình thành phủ đệ của các ông hoàng bà chúa ở kinh đô.



Nối gót Tùng Thiện công Miên Thẩm, nhiều hoàng thân, quốc thích cũng tìm đến những vùng đất bên ngoài Kinh Thành để dựng phủ. Cuộc sống quyền quý của các thành viên hoàng gia ở trong cung cấm, theo đó mà thâm nhập vào đời sống dân gian, cho dù ở nơi ở mới, cánh cửa phủ đệ vẫn lặng lẽ đóng kín nhưng khoảng cách giữa thường dân với các bậc quyền quý trong cung đã phần nào được khỏa lấp và văn hóa cung đình cũng theo đó mà lan tỏa khắp chốn kinh kỳ. Những vùng đất trù phú, thanh bình dọc hai bờ sông Lợi Nông, từ Phủ Cam xuôi về An Cựu, ở làng Kim Long, thôn Vỹ Dạ, xóm Gia Hội hay vùng Chợ Cống... là những nơi được nhiều ông hoàng, bà chúa lựa chọn làm nơi dựng phủ, lập đệ. Theo thời gian, những vùng đất này đã trở thành nơi bảo lưu “dấu tích lưu trú” của các ông hoàng, bà chúa thời Nguyễn.



Phủ đệ là cơ nghiệp riêng do các ông hoàng, bà chúa tự lập nên bằng tiền lương và các khoản bổng lộc mà triều đình ban tặng cho họ. Tùy theo chức tước và bổng lộc mà chủ nhân thụ đắc, phủ đệ sẽ to hay nhỏ, đường bệ hay khiêm tốn. Tuy nhiên, do triều Nguyễn là vương triều “nghèo khó” bậc nhất châu Á lúc bấy giờ, nên bổng lộc mà các thân công, hoàng tử, công chúa thụ hưởng cũng chẳng nhiều nhặn gì. Vì thế, nên khi phủ đệ hư hỏng, chủ nhân không có tiền sửa chữa, phải vay mượn tiền bạc của triều đình. Theo sách Đại Nam thực lục do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, thì vào tháng 2 năm Ất Hợi (1875), Vinh Lộc quận công Miên Tri vay nợ ở triều đình 1.000 quan tiền để sửa chữa phủ đệ bị hư hỏng.
Theo quy định, mỗi hoàng thân, hoàng tử, công chúa, khi sửa chữa phủ đệ sẽ được vay 1.000 quan và mỗi năm phải trả nợ 300 quan tiền cho triều đình. Miên Tri mới vay tiền được một tháng đã tiêu hết vào việc sửa nhà, nên phải xin triều đình cho lĩnh lương trước 2 - 3 năm để trả nợ. Vị hoàng thân đứng đầu Tôn Nhân phủ là Miên Định biết được việc ấy bèn hặc tâu với vua.



Phủ đệ - nơi hình thành, bảo lưu và lan tỏa tính cách Huế

Thật ra, hoàng cung và lăng tẩm của các bậc đế vương không làm nên tính cách Huế. Đó là nơi vương giả, với những quy định nghiêm nhặt và những điều húy kỵ khiến cho chốn ấy trở nên vời xa trong mắt dân chúng. Phủ đệ mới là nơi trung chuyển lối sống và văn hóa cung đình đến với dân gian xứ Huế, từ đó, góp phần hình thành nên tính cách Huế, như nhận xét của nhà nghiên cứu Trịnh Bách: “Chính các phủ đệ của ông hoàng bà chúa đã tạo ra cái phong cách Huế cho dân đế đô, vì chúng được xây ngoài phạm vi hoàng thành, xen lẫn với phố xá làng mạc. Cư dân chung quanh ngày xưa rất hãnh diện với các vương phủ trong bản hạt của họ. Họ cung cấp mọi dịch vụ cần thiết cho phủ, và cùng lúc đó họ học hỏi phong cách sống cung đình từ người trong phủ”.



Một trong những tính cách đặc trưng của văn hóa ứng xử Huế là tính cách mệ. Tính cách này được hình thành và nuôi dưỡng từ những phủ đệ kín cổng cao tường kia. Nguyên nghĩa, mệ là từ người Huế dùng để gọi phụ nữ ngoài 60 tuổi, cũng là danh xưng mà con cháu gọi người bà của mình, là mệ nội, mệ ngoại hay mệ dì…

Song chữ mệ trong tiếng Huế còn dùng để gọi những ông hoàng, bà chúa thuộc dòng dõi Nguyễn Phước tộc, dù họ là nam hay nữ. Những người quyền quý này xưng mệ khi chuyện trò, trao đổi với người ngoài như một cách tỏ bày nguồn gốc cao quý của mình: ta đây thuộc dòng dõi quý tộc, có mối liên hệ máu mủ với đức kim thượng trong Tử Cấm Thành kia; xưng mệ là để tỏ sự phân biệt với các hạng dân khác ở đế đô.



Mệ có đời sống riêng ẩn giấu trong vòng tường của phủ đệ và mỗi khi ra khỏi lớp tường rêu phong ấy, mệ có cách hành xử riêng, vừa cao ngạo, vừa khoan dung, sẵn lòng ban ơn cho kẻ dưới, cho dẫu có lúc kẻ dưới ấy là người giàu có của cải, tiền bạc hơn so với mệ.

Khi nhà Nguyễn trở thành quá vãng, mệ không còn nguồn chu cấp, trở nên nghèo khó, nhưng ánh hào quang của địa vị xuất thân ở trong mệ vẫn còn le lói chứ không bao giờ tắt hẳn. Mệ vẫn sống lối sống phong lưu như trước, vẫn dùng lối xưng hô như cũ, ra đường vẫn quần là áo lượt, vẫn áo the quần gấm, vẫn ban phát ân sủng khi cần thiết.



Vòng tường cao cao và cánh cửa đóng kín của phủ đệ đã che giấu sự khốn khó của mệ trước những con mắt soi mói của các hạng dân thường. Chỉ khi đêm về, khi nhìn thấy tòa chính đường trong phủ đã xập xệ, giột nát, và những món đồ cổ mà “ngài ngự” ban cho lúc trước, nay đã được đổi thành những khoản tiền nhỏ để bù đắp cho những chi phí thường nhật của mệ và con cháu mệ, mệ mới cất tiếng thở dài. Nhưng rồi khi mặt trời mọc, mệ lại đường hoàng bước ra khỏi cổng phủ, gọi chiếc xích lô chở đi ăn sáng. Mệ vẫn là mệ và phủ đệ vẫn biết cách cất giấu những khốn khó của mệ, kể từ lúc nhà Nguyễn thoái trào cho đến tận hôm nay.

Lần theo dấu vết phủ đệ



Thuở hoàng kim, xứ Huế có khoảng 150 phủ đệ ở khắp trong ngoài Kinh Thành. Ký Thưởng viên của Tùng Thiện công Miên Thẩm - hoàng tử thứ 10 của vua Thiệu Trị - là vương phủ đầu tiên nằm ngoài Kinh Thành Huế, mở đầu cho lịch sử hình thành phủ đệ của các ông hoàng bà chúa ở kinh đô.
Nhà Nguyễn cáo chung, vật đổi sao đời, phủ đệ cũng theo đó mà suy tàn. Đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, Huế còn lưu giữ khoảng 85 phủ đệ, tập trung ở các khu vực: phía đông bắc Thành Nội, An Cựu, Kim Long, Vỹ Dạ và Gia Hội. Còn bây giờ, cho dù kín cổng cao tường thì khuôn viên phủ đệ ngày càng nhỏ hẹp dần do quá trình đô thị hóa, hoặc bị chia năm xẻ bảy bởi nạn nhân mãn. Thế giới trầm lắng, bí ẩn, luôn ẩn khuất đằng sau các cánh cửa gỗ hàng trăm năm tuổi của phủ đệ đang dần mở ra trong lòng xứ Huế đương đại.

Nhưng như thế không có nghĩa là những phủ đệ của Huế xưa đã mất dạng hoặc đang phơi ra dưới ánh mắt soi mói của người đời. Phủ đệ vẫn là nơi chốn mà mỗi lần đến Huế, du khách nên tự mình tìm đến, bước qua bậc tam quan có cánh cửa gỗ dường như luôn đóng kín, để khám phá những gì ẩn giấu bên trong. Du khách có thể làm một chuyến ngao du tìm về những phủ đệ còn sót lại ở Kim Long, Gia Hội, Vỹ Dạ, An Cựu… như tìm về những hoài niệm của Huế xưa.



Ngược lên Kim Long, du khách viếng thăm phủ đệ của các hoàng thân, công chúa triều Nguyễn và các phủ từ của họ ngoại vua Tự Đức như: Ðức quốc công từ, Diên Phước công chúa từ, Vĩnh quốc công từ, Khoái Châu quận công từ… Xuôi về Gia Hội ghé thăm phủ Thọ Xuân vương, phủ Thoại Thái vương, phủ Hòa Thạnh vương, phủ Lạc Biên… Rồi tranh thủ ghé thăm xóm Ngự Viên ở đường Mạc Đĩnh Chi, nơi còn dấu tích của dăm bảy vương phủ của các hoàng thân thuộc các triều Minh Mạng và Thiệu Trị, ghé đường Nguyễn Chí Thanh thăm phủ thờ công chúa Ngọc Sơn, con vua Đồng Khánh.

Du khách cũng có thể đi dọc đôi bờ sông Lợi Nông, bên bờ đông thì viếng thăm phủ Tùng Thiện vương, từ đường Ngọc Lâm công chúa, phủ Kiên Thái vương, phủ An Hóa công, từ đường Bái Ân công chúa hay cung An Định, vốn là phủ tiềm để của Phụng Hóa công Bửu Đảo, trước ngày ông hoàng này lên ngôi trở thành vua Khải Định; bên bờ tây thì ghé thăm phủ Kiến Hòa, phủ Mỹ Hóa…

Từ An Cựu ghé sang Chợ Cống thăm phủ Hàm Thuận công và từ đường An Thường công chúa, nơi thờ công chúa Nguyễn Phúc Lương Đức, con thứ 4 của vua Minh Mạng. Rồi xuôi về Vỹ Dạ, vốn là nơi có nhiều phủ đệ bậc nhất thuở trước, nay vẫn còn lưu dấu những vương phủ uy nghi mà du khách nên viếng thăm trong hành trình theo dấu vương phủ của Huế xưa như phủ Tuy Lý vương, phủ Diên Khánh vương, phủ Phong Quốc công, phủ Ðịnh Viễn quận vương…

Lúc ấy, du khách mới thấy Huế vẫn còn biết bao kỳ bí cần phải khám phá, cả những kỳ bí giấu sau cánh cửa phủ đệ lẫn những kỳ bí ẩn dưới tính cách lịch lãm và đài đệ của dân mệ.

Du lịch, GO!

Biển Vinh Thanh (Huế)


Không quá nổi tiếng như biển Lăng Cô hay biển Cảnh Dương. Không có được vị trí thuận lợi gần Tp. Huế như biển Thuận An nhưng biển Vinh Thanh lại có nét lôi cuốn riêng mà phải một lần đến để hòa mình với tiếng sóng vỗ rầm rì, cảm nhận mùi mặn tươi của biển cả trên các ghe thuyền đầy cá mực trở về... du khách mới có thể cảm nhận đầy đủ về một vùng biển đang là sự lựa chọn của nhiều du khách trong những ngày nghỉ cuối tuần.

Cách thành phố Huế 30 km về phía đông nam, nằm trên trục đường thuận tiện, chỉ cần chưa đầy 30 phút đi ô tô là đến với biển Vinh Thanh. 
Sự thuận tiện trong giao thông cộng với bãi biển sạch, hải sản tươi và rẻ nên Vinh Thanh đang là sự lựa chọn của không ít người khi muốn du lịch biển mùa hè. Trong những ngày hè có hàng ngàn lượt du khách đến đây mà cao điểm như thứ 7, chủ nhật, tết đoan ngọ hay Festival Huế vừa qua có ngày lượng khách lên đến 5, 6 ngàn người.



Như hầu hết những bãi biển khác ở miền Trung nắng, gió, bãi biển Vinh Thanh luôn chan hòa ánh nắng với bầu trời xanh rám mây trắng, sóng vỗ rì rào, bọt tung trắng xóa. 

Bãi cát trắng trải dài, nước biển xanh ngắt, cảnh hoàng hôn lãng mạn, không gian du dương tĩnh lặng. Có lẽ do biển Vinh Thanh chưa được sự chú ý của các đơn vị khai thác du lịch nên vẫn còn giữ nguyên nét hoang sơ, rất thích hợp cho những ai yêu thích sự yên tĩnh, và thiên nhiên khoáng đạt …


Hình ảnh đặc trưng của Vinh Thanh là những con thuyền đánh cá nằm chờ trên bãi cát trước chuyến ra khơi, gương mặt người dân quê với làn da đen sạm nắng, giọng nói rặt Huế, tính tình hiền lành, chân chất và rất hiếu khách. Và điều luôn thú vị với mọi du khách là xuống biển tự tay chọn cho mình những chú mực tươi rói, những chú ghẹ càng xanh óng ánh từ chiếc thuyền câu vừa cập bến thuê các nhà hàng hay nhà dân chế biến thành những món ăn tươi.


Nếu là một người không thích sự náo nhiệt tại các bãi biển đông người, không muốn đi quá xa và yêu thích nét hoang sơ thì Vinh Thanh sẽ là lựa chọn của nhiều du khách. Bởi ở đây không chỉ có tắm biểm mà du khách cũng sẽ cảm thấy thú vị khi cùng hòa vào cuộc sống của những người dân nơi đây, được đón những chuyến tàu từ khơi xa trở về. Và với những người đam mê nhiếp ảnh, thì Vinh Thanh là một địa điểm không thể bỏ qua. Điểm còn lại mà biển Vinh Thanh chưa có đó chính là dịch vụ lưu trú cho những du khách muốn nghỉ lại đây. Điều này cũng đang được chính quyền địa phương lưu tâm kêu gọi các nhà đầu tư. Hy vọng rằng một ngày không xa trở lại Vinh Thanh sẽ còn nhiều điều thay đổi để bãi biểm này càng thu hút nhiều hơn không chỉ khách ở địa phương mà cả khách du lịch trong và ngoài nước đến nghỉ ngơi, tắm biển trong mùa hè.

Trích website Huế

Núi Kim Phụng (Huế)


Núi Kim Phụng ở địa phận làng Hải Cát, xã Hương Thọ, huyện Hương Trà. Núi này còn có tên là núi Thương hoặc Thiên Dữu, dân gian gọi là hòn Đốn hay hòn Đụn. Núi Kim Phụng có chiều cao khoảng 427 mét và là ngọn núi cao nhất Thừa Thiên - Huế.

Trên núi có giếng nước rất trong nhưng mùa khô sẽ cạn. Đỉnh núi có tượng Phật nhỏ và tượng thần Núi Thương với những bát hương. Trước mặt tượng Phật về bên phải, có một nơi khá im mát có thể làm nơi cắm trại cho nhiều người - Không khí trong lành, mát rượi. Từ đỉnh cao này sẽ nhìn thấy bao quát thành phố Huế kề cận bên dòng sông Hương quanh co.



< Núi Kim Phụng nhìn từ Bàu Hồ.

Trên đỉnh núi có thể nhìn thấy cả một vùng rộng lớn: Nếu nhìn theo hướng Đông - Nam sẽ thấy hai trụ biểu của lăng Gia Long, nhìn về hướng Đông thấy lăng Minh Mạng và cầu Tuần, tượng Bồ Tát Quán Âm trên núi Tứ Tượng. Phía bên phải cầu Tuần là ngã ba Bằng Lãng, nơi hai dòng Tả Trạch và Hữu Trạch hợp lưu thành sông Hương.



< Trên đỉnh núi có thể nhìn thấy cả một vùng rộng lớn...

Dòng sông Hương là một giải xanh xanh nằm ngang và uốn khúc ở góc đông bắc của bức tranh này tại vị trí làng Lương Quán và Nguyệt Biều rồi chảy xuống cầu Dã Viên. Giữa chừng trước khi đến Lương Quán, sông Hương chảy qua điện Hòn Chén mà từ đây có thể thấy hòn núi Ngọc Trản. Ở đây còn thấy rõ tháp ở tu viện Thiên An, núi Ngự Bình, và dĩ nhiên là thành phố lô nhô bóng nhà. Xa tít tắp màu trắng mờ mờ là cồn cát bên kia phá Tam Giang.



< Để lên đỉnh núi cũng không quá khó, cứ lên theo lối mòn.

Nhìn về hướng Tây sẽ thấy khu vực Bình Điền, bên trái là đồi  Birmingham. Có nhiều con đường được trổ ra từ thời chiến tranh, sau này người ta cũng mở đường để khai thác gỗ.



< Ánh trăng trên đỉnh núi, phía dưới là ánh đèn từ thành phố Huế.

Các rừng trồng dần dần thay thế rừng tự nhiên khiến gỗ quí không còn. Bây giờ chỉ có bạch đàn, keo tai tượng, tràm hoa vàng và thông. Dân đi củi, đốt than nay ít hơn vì rừng được phá bằng các phương tiện cơ giới nhanh hơn. Cả ngọn núi Kim Phụng không còn cây nào cao hay có tán lá rộng. Chỉ còn tầng cây bụi thấp như sim, lau lách...



< Đón bình minh trên núi Kim Phụng.

Chân núi có dòng suối với nước trong leo lẻo, mát lạnh... kề cận vài lán nhỏ của những người đi lấy nhựa thông. Đây cũng là chỗ dừng chân tạm cho những người xuống núi sau buổi cắm trại.



< Tượng Phật nhỏ trên núi.

Theo Giáo sư Trần Quốc Vượng thì núi Kim Phụng là "chủ sơn" của xứ Huế, làm hậu cảnh và phá Tam Giang chính là tiền cảnh. Đây đồng thời còn là đường phân thủy của hai nguồn tả hữu trạch hợp thành dòng Hương Giang.

Năm Minh Mạng thứ 17 (1836): lúc đúc cửu đỉnh, nhà vua đã cho khắc hình tượng núi vào Chương đỉnh.
Theo sách Tây sơn thực lục, núi Kim Phụng là nơi an táng Chánh cung hoàng hậu họ Phạm của Hoàng đế Quang Trung (1791).

Trong giai đoạn kháng chiến 1954 - 1975, Kim Phụng là một trong những căn cứ quan trọng nhất của Thành ủy Huế. Ðây cũng là nơi đóng trạm tiền tiêu của Bộ trong chiến dịch tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968).

Trong kháng chiến chống Mỹ, đây là một trong những nơi Thành uỷ trú đóng và là trạm tiền tiêu của Bộ trong chiến dịch tổng tấn công và tổng nổi dậy Tết Mậu Thân (1968).

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ nhiểu nguồn, ảnh từ Art2all.net + internet

Nét đẹp Xích Lô Huế


Du khách mỗi lần đến Huế thường rất thích thú ngắm Kinh thành, lăng tẩm cổ kính, sông Hương núi Ngự, cuộc sống con người cố đô… trên những chiếc xích lô chậm rãi, nhẹ nhàng

< Ngồi xích lô đi quanh Kinh thành Huế luôn là lựa chọn đầu tiên khi du khách tới thăm Huế.

Dưới đây là những hình ảnh PV Dân trí ghi nhận về nghề xích lô như một nét văn hóa Huế độc đáo.



< Và người đạp xích lô cũng phải biết chiều khách và trả lời trả lời bất cứ câu hỏi nào của khách từ chỗ mua đặc sản Huế để làm quà, các quán ăn đậm chất Huế đến những địa điểm may áo dài…



< Một dãy xích lô hàng chục chiếc chở du khách qua cầu Trường Tiền ngắm nhìn sông Hương thơ mộng hay trên các trục đường trong thành phố.



< 1 cặp đôi người Tây tỏ vẻ thích thú trên phương tiện xích lô thô sơ.

Huế có khoảng 5.000 người làm nghề xích lô. Tuy nhiên tình trạng lộn xộn tranh giành khách, chặt chém du khách hiện nay diễn ra cũng khá phổ biến đã làm ảnh hưởng đến hình ảnh xích lô Huế trong lòng du khách.



< Nhiều trẻ nhỏ cùng ba mẹ thấy rất hứng thú với việc ngồi xích lô ngắm cảnh vật trên các ngả đường của thành phố.



< Xích lô là phương tiện rất hữu ích đối với những cụ già ở Huế khi muốn đi dạo phố hay đến thăm bạn hay thăm con cái lúc yếu sức.



< Những người phụ nữ mặc áo dài ngồi trên xích lô càng làm hình ảnh xích lô Huế đẹp hơn.

Để xây dựng hình ảnh cho thành phố Huế - thành phố du lịch xanh và hình ảnh xích lô Huế được lâng tầm, đẹp hơn trong mắt du khách.



< Nhiều người nổi tiếng trong nước và nước ngoài cũng chọn xích lô là phương tiện để đi thăm thú Huế. Trong ảnh Á hậu Hoàng My (áo dài xanh), ông Martin Yan (áo vàng ngồi giữa) đầu bếp nổi tiếng thế giới và bà Hoàng Anh - hậu duệ của ông Hồ Văn Tá, đầu bếp hoàng gia cuối cùng của truyền Nguyễn ngồi xích lô thăm thú Kinh thành Huế trong chương trình Martin Yan – Taste of Vietnam diễn ra cuối tháng 9 tại Huế. 



< Xích lô không những là phương tiện mưu sinh hàng ngày mà còn là nguời bạn tri kỷ gắn bó cả đời với những người đạp xích lô. Chính vì vậy, hàng ngày họ rất chú trọng việc chăm sóc, dọn dẹp cho xích lô của mình được sạch sẽ.



< Nhiều người dù đã ở cái tuổi "xưa nay hiếm" nhưng họ vẫn đạp xích lô mưu sinh hàng ngày bất kể ngày nắng mưa.



< Những lúc vắng khách, chú xích lô tranh thủ chở thêm hàng hóa cho người dân để kiếm thêm thu nhập.



< Cha cùng 3 con đi dạo phố trên chiếc xích lô mưu sinh sau một ngày làm việc mệt nhọc.



< Nét lặng xích lô Huế trong mưa đông.

Mới đây, Sở Văn hóa-Thể thao và Du lịch Thừa Thiên Huế quyết định trích ngân sách để hỗ trợ mỗi đầu xe tham gia nghiệp đoàn xích lô 500.000 đồng để chỉnh trang lại xe như màu sơn, gắn biển số, tập huấn thêm về nghiệp vụ du lịch, xiết chặt hơn về kỷ cương, thống nhất tương đối về mức giá…



< Vất vả đạp xích lô chở khách du lịch thăm thú thành phố trong mưa Huế.



< Khi đêm khuya mọi cửa hàng đã tắt điện, người dân bắt đầu chìm vào giấc ngủ thì những người làm nghề xích lô vẫn chầm chậm, miệt mài trên từng con đường để tìm khách trong đêm.

Du lịch, GO! - Theo Ngọc Thụ - Đại Dương (Dantri)

Đại Nội- Huế


Nằm ở bờ Bắc dòng sông Hương thơ mộng, Kinh thành Huế được xây dựng trên một mặt bằng diện tích hơn 500ha, bao gồm Hoàng Thành và Tử Cấm Thành, được gọi chung là Đại Nội. Đây là trung tâm hành chính, chính trị của triều đình nhà Nguyễn và là nơi sinh hoạt của nhà vua và hoàng gia. Đại Nội Huế là một trong số các di tích thuộc cụm Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới từ năm 1993.

Từ thế kỷ XVI, do biến động lịch sử của dân tộc, nên trong nhiều cộng đồng người Việt, người Chăm và các dân tộc khác đã diễn ra một làn sóng di dân liên tục mà tiêu biểu là cuộc "Nam tiến" lớn nhất do chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ trên đất Thuận Hoá năm 1558.

Trên nền tảng vật chất và tinh thần đã được hình thành ở Huế từ đầu thế kỷ XIV, các chúa Nguyễn (thế kỷ XVI-XVIII), triều đại Tây Sơn (cuối thế kỷ XVIII) và các vua Nguyễn (1802-1945) đã tiếp tục phát huy và gây dựng ở đây một tài sản văn hoá vô giá. Tiêu biểu nhất là Quần thể di tích Cố đô Huế đã được ghi vào danh mục Di sản Văn hoá Thế giới của UNESCO.



< Cửu Đỉnh đặt ở trước Hiển Lâm Các.

Hệ thống Đại Nội Huế

Hệ thống kiến trúc biểu thị cho quyền uy của chế độ trung ương tập quyền nhà Nguyễn là ba tòa thành: Kinh thành Huế, Hoàng thành Huế, Tử cấm thành Huế lồng vào nhau được bố trí đăng đối trên một trục dọc xuyên suốt từ mặt Nam ra mặt Bắc.

Hệ thống thành quách ở đây là một mẫu mực của sự kết hợp hài hòa nhuần nhuyễn giữa tinh hoa kiến trúc Đông và Tây, được đặt trong một khung cảnh thiên nhiên kỳ tú với nhiều yếu tố biểu tượng sẵn có tự nhiên đến mức người ta mặc nhiên xem đó là những bộ phận của Kinh thành Huế - đó là núi Ngự Bình, dòng Hương Giang, cồn Giã Viên, cồn Bộc Thanh...


< Cổng Ngọ Môn, một trong những biểu tượng của Cố đô Huế.

Ðại Nội, bao gồm Hoàng Thành và Tử Cấm Thành, có hơn 100 công trình kiến trúc đẹp ở nhiều khu vực khác nhau với các chức năng khác nhau. Hoàng Thành được xây dựng năm 1804, nhưng để hoàn chỉnh toàn bộ hệ thống cung điện với khoảng hơn 100 công trình thì phải đến thời vua Minh Mạng vào năm 1833, mọi việc mới được hoàn tất.

Hoàng thành giới hạn bởi một vòng tường thành gần vuông với mỗi chiều xấp xỉ 600m, có 4 cổng ra vào với cửa chính (phía Nam) là Ngọ Môn, phía Đông có cửa Hiển Nhơn, phía Tây có cửa Chương Đức, phía Bắc có cửa Hòa Bình. Trong đó, độc đáo nhất và thường được lấy làm biểu tượng của Cố đô là Ngọ Môn, khu vực hành chính tối cao của triều đình nhà Nguyễn. Các cầu và hồ được đào chung quanh phía ngoài thành đều có tên Kim Thủy.



Những khu vực trọng yếu của Hoàng Thành bao gồm: Khu vực phòng vệ, Khu vực cử hành đại lễ, Khu vực miếu thờ, Khu vực dành cho bà nội và mẹ vua, Khu vực dành cho các hoàng tử học tập, giải trí... Ngoài ra, còn có kho tàng (Phủ Nội Vụ) và các xưởng chế tạo đồ dùng cho hoàng gia.

Khu vực quan trọng và rộng lớn nhất là Tử Cấm Thành xây dựng gần vuông, mỗi cạnh trên dưới 300m, vòng tường chung quanh cao 3,5m. Trong khu vực này có gần 50 công trình kiến trúc, gồm một vòng tường thành bao quanh khu vực các cung điện như điện Cần Chánh (nơi vua tổ chức lễ Thường triều), điện Càn Thành (chỗ ở của vua), cung Khôn Thái (chỗ ở của Hoàng Quý Phi), lầu Kiến Trung (từng là nơi ở của vua Bảo Đại và Hoàng hậu Nam Phương), nhà đọc sách và các công trình khác phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của nhà vua và gia đình như Thượng Thiện Đường (nơi phục vụ ăn uống), Duyệt Thị Đường (nhà hát hoàng cung)…

Mặc dù có rất nhiều công trình lớn nhỏ được xây dựng trong khu vực Hoàng Thành nhưng tất cả đều được đặt giữa thiên nhiên với các hồ lớn nhỏ, vườn hoa, cầu đá, các hòn đảo và các loại cây lưu niên tỏa bóng mát quanh năm.

Tuy quy mô của mỗi công trình có khác nhau, nhưng về tổng thể, các cung điện ở đây đều làm theo kiểu “trùng lương trùng thiềm”, hay còn gọi là “trùng thiềm điệp ốc” – kiểu nhà kép hai mái trên một nền, đặt trên nền đá cao, vỉa ốp đá Thanh, nền lát gạch Bát Tràng có tráng men xanh hoặc vàng, mái cũng được lợp bằng một loại ngói đặc biệt hình ống có tráng men thường gọi là ngói thanh lưu ly (nếu có màu xanh) hoặc hoàng lưu ly (nếu có màu vàng). Các cột được sơn thếp theo mô típ long-vân (rồng-mây). Nội thất cung điện thường được trang trí theo cùng một phong cách nhất thi nhất họa (một bài thơ kèm một bức tranh) với rất nhiều thơ bằng chữ Hán và các mảng chạm khắc trên gỗ theo đề tài bát bửu, hay theo đề tài tứ thời.

Hoàng Thành và toàn bộ hệ thống cung điện bên trong là khu vực cực kỳ trọng yếu, được phân bố chặt chẽ theo từng khu vực, tuân thủ nguyên tắc (tính từ trong ra): “tả nam hữu nữ”, “tả văn hữu võ”. Ngay cả trong các miếu thờ cũng có sự sắp xếp theo thứ tự “tả chiêu hữu mục” (bên trái trước, bên phải sau, lần lượt theo thời gian).

Bảo tồn công trình kiến trúc triều Nguyễn



Cố đô Huế ngày nay vẫn còn lưu giữ trong lòng những di sản văn hoá vật thể và phi vật thể chứa đựng nhiều giá trị biểu trưng cho trí tuệ và tâm hồn của dân tộc Việt Nam.

Công trình Đại Nội Huế biểu hiện sự kết tinh về thẩm mỹ nghệ thuật, ý thức, về sự giao cảm giữa thiên nhiên, môi trường và con người. Vì vậy, việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa được coi là việc làm cấp thiết. Bảo tồn di tích kiến trúc nhằm hướng đến giữ gìn, bảo lưu và chuyển giao một cách toàn diện, đầy đủ và chân xác các giá trị hữu hình và vô hình của tài sản văn hoá kiến trúc cho thế hệ mai sau.



Kể từ khi được công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới đến nay, Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế đã trùng tu, phục hồi được 132 công trình, hạng mục di tích tiêu biểu. Trong đó có Ngọ Môn, Điện Thái Hoà, Hiển Lâm các, cụm di tích Thế Miếu, cung Diên Thọ, Duyệt Thị Đường, cung Trường Sanh, hệ thống trường lang Tử Cấm Thành, Minh Lâu, điện Sùng Ân, Hữu Tùng Tự, Bi Đình (lăng Minh Mạng); điện Hoà Khiêm, Minh Khiêm Đường, Ôn Khiêm Điện (lăng Tự Đức); Thiên Định Cung, Bi Đình (lăng Khải Định), chùa Thiên Mụ, cung An Định, các cổng của kinh thành Huế...



Hầu hết các di tích đều được bảo quản cấp thiết, bằng các biện pháp chống dột, chống sập, chống mối mọt, chống cây cỏ xâm thực, gia cố và thay thế các bộ phận bị lão hóa... Nhờ vậy, trong điều kiện thiên tai khắc nghiệt xảy ra liên tiếp, các di tích vẫn được bảo tồn và kéo dài tuổi thọ.

Bên cạnh việc trùng tu, bảo tồn kiến trúc, gần đây, Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế đã triển khai thêm nhiều hoạt động văn hóa tại Khu di tích Đại Nội Huế.

Du khách có thể tham gia đêm Hoàng cung được tổ chức định kỳ vào thứ Bảy hàng tuần. Toàn bộ khung cảnh Đại Nội ngập tràn ánh sáng, tái hiện lại những họat động văn hóa nghệ thuật độc đáo của cung đình xưa. Trong đó nổi bật có lễ Đổi gác tại Ngọ Môn diễn ra từ 09h00 đến 09h30 hàng ngày. Hoạt động văn hóa mới này sẽ nhằm giới thiệu đến với du khách một trong những nghi thức trong triều đình xưa, đồng thời tạo điểm nhấn du lịch mới.



Cùng với lễ Đổi gác, các hoạt động khác như biểu diễn Đại nhạc tại sân Thế Miếu từ 09h00 đến 11h00 (sáng) và 14h30 đến 16h30 (chiều), hay biểu diễn Tiểu nhạc tại điện Thái Hòa từ 08h00 đến 10h30 (sáng) và từ 14h00 đến 16h00 (chiều) cũng được tổ chức hàng ngày.

Đến nay, trải qua bao biến động và thời gian, nhưng với tư cách là tài sản vô giá của dân tộc, là thành quả lao động của hàng vạn người trong suốt một thời gian dài, Khu di tích Đại Nội vẫn luôn là một công trình lịch sử minh chứng cho sự tồn tại của triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam.

Theo Thanh Thủy (Quehuong online)
Du lịch, GO!

Bài đăng phổ biến