Hiển thị các bài đăng có nhãn Cao Bằng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cao Bằng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2015

Hồ Thang Hen (Cao Bằng)

Cách thành phố Cao Bằng khoảng 30km theo tỉnh lộ 205, cùng với những điểm du lịch khác như: Khu di tích lịch sử Pác Bó, thác Bản Giốc - động Ngườm Ngao..., địa danh hồ Thang Hen được nhắc đến như là một trong những địa chỉ du lịch sinh thái nổi bật, hấp dẫn, với nhiều phong cảnh thơ mộng, hữu tình gắn liền với những truyền thuyết, sự tích, kỳ bí thu hút du khách trong và ngoài nước đến tham quan.


Thuộc địa phận xã Quốc Toản, huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng ở độ cao hàng nghìn mét so với mặt biển, Hồ Thăng Hen là một hồ đẹp trong số 36 hồ nằm ở trên núi của nước ta. Nằm ở giữa một vùng núi non và màu xanh của cây vươn mình trên các vách đá cheo leo soi bóng xuống mặt nước trong, uốn lượn theo dòng mũng mấp mô những mỏ đá ngầm. Hồ Thăng Hen có hình thoi, rộng khoảng 300m, dài hơn 1.000m, giữa rừng trám trắng, trám đen nhô lên những khối đá tai mèo. Phía đầu nguồn là một cái hang rộng, từ trong hang nguồn nước chảy ra suốt ngày đêm. Đặc biệt nước hồ Thang Hen hàng ngày lại có hai đợt “thủy triều” lên và xuống. Vào mùa lũ, trong khi các hồ khác nước đỏ lựng thì nước hồ Thang Hen vẫn luôn trong xanh. Mùa cạn nước sâu chừng 10m. Gần hồ Thang Hen còn có hồ Thăng Luông, giữa hồ nhô lên một quả núi phong cảnh rất ngoạn mục.


Hồ Thang Hen có huyền thoại rất thú vị. Theo truyền thuyết dân gian, ngày xưa ở Cao Bằng có một chàng trai tên là Sung thông minh tuấn tú. Chàng thi đỗ làm quan và được vua ban thưởng bảy ngày vinh quy bái tổ. Về quê, chàng kết hôn cùng nàng Boóc xinh đẹp. Mải quyến luyến bên người vợ xinh đẹp mới cưới, chàng quên mất ngày trở về kinh. Đến đêm thứ bảy chàng mới sực nhớ, vội chia tay vợ và bố mẹ chạy về kinh. Giữa đêm tối trong rừng hoang, Chàng chạy được 36 bước chân thì ngã đầu đập vào núi rồi chết. 36 bước chân của chàng ngày nay là 36 cái hồ lớn nhỏ với những tên gọi khác nhau của tiếng địa phương thuộc huyện Trà Lĩnh. Tương truyền rằng nơi chàng nằm xuống chính là hồ Thang Hen ngày nay.
Hiện nay, quần thể hồ Thang Hen có 36 hồ tự nhiên, mỗi hồ cách xa nhau vài chục hoặc vài trăm mét. Các hồ đều có bờ ngăn riêng, tuy nhiên tất cả đều thông nhau bởi các hang động ngầm dưới lòng đất. 36 hồ nước ngọt tự nhiên này nằm trong một thung lũng rộng lớn tiếp giáp giữa xã Quốc Toản (Trà Lĩnh) và xã Ngũ Lão (Hòa An). Những tên hồ được đặt theo tiếng địa phương, như: Thang Vạt, Nà Ma, Thang Loỏng, Thang Hoi... có từ hàng trăm năm nay. Trong đó, Thang Hen là hồ lớn nhất trong quần thể 36 hồ. Hồ Thang Hen có chiều dài gần 2.000m, rộng 50 m, được bao quanh bởi những tán rừng già xen lẫn những mỏm đá tai mèo và có độ sâu tới 4 m.

Tên của hồ Thang Hen theo tiếng bản địa của người Tày có nghĩa là “đuôi ong”, bởi vì từ trên cao phóng tầm mắt nhìn xuống du khách sẽ liên tưởng hình dáng của hồ có hình tựa như đuôi con ong. Các hồ tự nhiên này có nhiều đặc sản do thiên nhiên ban tặng với hơn 100 loại cá lớn, nhỏ khác nhau, trong đó có nhiều loại rất hiếm như: Cá cháy, anh vũ, bò râu, bống bớp… Cá ở đây lớn rất nhanh bởi chúng được sống trong môi trường trong lành, mặt nước rộng được bao quanh là các dãy núi đá cao và thảm thực vật dày, nguồn thức ăn dồi dào, phong phú.
Thang Hen có phong cảnh sơn thủy hữu tình với những hàng cây xanh vươn mình trên vách đá cheo leo, soi bóng xuống mặt nước xanh ngát, uốn vòng theo lòng thung lũng mấp mô những mỏm đá ngầm. Vào buổi sáng, từ đỉnh núi phóng tầm mắt xuống lòng hồ có thể thấy những đám mây lướt qua hệt như những dải lụa trắng tung bay trong gió. Phía đầu nguồn của hồ có một cái hang rộng gọi là hang Thang Hen. Không kể mùa lũ hoặc mùa khô, nước trong hồ Thang Hen quanh năm xanh ngắt. Khu vực hồ Thang Hen có bờ vực đá dựng đứng sâu từ 5m - 30m, trên núi đá có những loại cây gỗ quý hiếm như nghiến cổ thụ có tuổi thọ hằng trăm năm và nhiều giống hoa lan rừng, các loại thực vật đa dạng phong phú cùng với nhiều loại thú hoang dã, như: khỉ vàng, gà gô, chim gáy rừng...

Hiện nay, với sự đầu tư của địa phương, khu vực hồ Thang đã trở thành một điểm du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng lý tưởng cho khách du lịch. Xung quanh hồ đã có khu nhà nghỉ, có tổ thuyền chèo đưa khách đi tham quan. Du khách đến đây còn được thưởng thức các món ăn dân tộc từ sản phẩm của hồ như cá rầm xanh om trám, cá anh vũ xào ớt, tôm núi kho me…ngoài ra còn có cháo ngô, rượu ngô, gà đồi, lợn quay, rau bò khai thơm ngon nổi tiếng. Đặc biệt, các làn điệu hát sli, hát then, hát lượn say đắm lòng người.
Bảo Anh (TTVN)

Động Ngườm Ngao (Cao Bằng)

Động Ngườm Ngao là điểm đến thú vị dành cho những ai thích khám phá trên hành trình du lịch đến thăm Cao Bằng.
Động Ngườm Ngao là một động lớn được hình thành từ sự phong hoá lâu đời của đá vôi. Ngườm Ngao (tiếng dân tộc Tày có nghĩa là hang Cọp hay còn gọi “hang giữa thung lũng đá”) do người dân địa phương phát hiện năm 1921, nhưng đến 1996 mới được tỉnh khai hoang, đầu tư cơ sở hạ tầng khai thác du lịch.
Theo số liệu khảo sát của đội khảo sát Hoàng gia Anh năm 1995, động Ngườm Ngao có chiều dài 2.144m, gồm 3 cửa chính: cửa Ngườm Lồm quanh năm mát lạnh nằm ẩn mình dưới những khối đá dưới chân núi; cửa Ngườm Ngao cách chân núi vài trăm bậc thang và cửa Bản Thuôn phía sau núi, kề cận bản Thuôn của người Tày.

Từ Hà Nội đi theo quốc lộ 3 lên đến Tx. Cao Bằng (khoảng 272km), đến TT. Quảng Uyên thì rẽ sang tỉnh lộ 206 là đến động Ngườm Ngao. Hiện ngành du lịch địa phương đã đầu tư làm con đường tráng nhựa nối từ tỉnh lộ 206 vào khu du lịch Ngườm Ngao. Và một con đường bêtông tỏa khắp thung lũng, hang động đi cùng hệ thống chiếu sáng cũng đã được hoàn tất từ đầu năm 2006.

Không gian rộng lớn cùng những thạch nhũ kỳ ảo khiến động Ngườm Ngao được mệnh danh là hang động đẹp nhất Việt Nam.
 
Nhiệt độ trong động luôn ổn định, từ 18 đến 25 độ C, mùa hè cho cảm giác mát mẻ, còn mùa đông lại ấm áp.
 
Toạ lạc trong lòng một quả núi ở bản Gun, xã Đàm Thuỷ, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, Ngườm Ngao có tổng chiều dài 2144 mét với 3 cửa chính là Ngườm Ngao, Ngườm Lồm và Bản Thuôn.
 
Động được chia thành nhiều khu cho du khách dễ hình dung khi tham quan.
 
Vào sâu trong động, khám phá những khối đá vôi và thạch nhũ muôn hình vạn trạng được hình thành do cặn của nước nhỏ giọt đọng lại trải qua hàng triệu năm, mới thấy sức sáng tạo của Mẹ thiên nhiên là vô cùng vô tận.
 
Đến đây, du khách sẽ được thỏa sức tưởng tượng ra những hình thù kỳ lạ và sinh động. Khối dưới đất mọc lên, khối từ trên sà xuống, vô cùng đa dạng.
 
Du khách sẽ bắt gặp những khối nhũ đá độc đáo như đài sen úp ngược, cột đá cô đơn cây san hô, bầu sữa mẹ, con cóc thần, cây đàn đá, thác vàng, thác bạc…
 
Nhũ đá trong động Ngườm Ngao có màu khác hẳn với những động khác bởi có lượng canxi bị pha nhiều tạp chất.
 
Trong lòng động Ngườm Ngao có chỗ còn phát ra tiếng suối róc rách rất vui tai và cũng là “máy điều hoà” tự nhiên khiến cho không khí trong động luôn mát lạnh hơi nước.
 
Đến với huyện Trùng Khánh, ngoài chiêm ngưỡng vẻ đẹp của động Ngườm Ngao, bạn sẽ được thưởng thức đặc sản địa phương như vịt quay, rau dạ hiến, hạt dẻ, măng chua, lạp sườn…
 
Và kết hợp tham quan các điểm du lịch gần như thác Bản Giốc, cửa khẩu Pò Peo...

Thác Bản Giốc (Cao Bằng)


Bản Giốc là thác nước tự nhiên lớn nhất khu vực Đông Nam Á, lớn thứ tư thế giới trong số các thác nước đẹp nhất nằm trên biên giới giữa các quốc gia.

Việt Nam có nhiều thác nước hùng vĩ, đẹp, như Đambri (Bảo Lộc), Datanla, Pren (Đà Lạt), Trinh nữ, Đraynu, Đraysap (Đắc Lắc)...Tuy vậy, thác nước được coi là lớn nhất, đẹp nhất Việt Nam là thác Bản Giốc. Thác Bản Giốc nằm tại xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, cách thị xã Cao Bằng gần 90 km.



Từ Hà Nội, chúng tôi đi ô tô lên Cao Bằng. Cảnh sắc tuyệt vời và khí hậu mát mẻ của miền Đông Bắc với đồi núi chập chùng, những cánh rừng xanh ngắt, những nương lúa rập rờn…khiến con đường gần 300 km như ngắn lại rất nhiều.

Đúng là muốn chinh phục “người đẹp” Bản Giốc không dễ dàng. Đường hẹp, lại quanh co, khúc khuỷu và đang được nâng cấp mở rộng nên rất khó đi. Tuy vậy, do quen thuộc địa bàn nên người lái xe đưa chúng tôi vượt qua những ổ voi, ổ gà, những vũng nước, hố ga, những hẻm đá, bờ vực…một cách an toàn. Hơn thế, cảnh sắc thiên nhiên tuyệt đẹp, với trời xanh mây trắng, màu xanh ngút ngàn của những nương ngô, màu đỏ của đất đá… làm du khách quên đi nỗi vất vả trên những con đèo uốn lượn, những khúc cua quanh co, những khúc gấp bất ngờ chật hẹp…



Ai đó đã nói: “Cứ đi rồi sẽ đến” , quả thế! Con đường gian nan đã ở lại phía sau. Trưa, khi xe dừng lại, chúng tôi nghe thấy tiếng nước chảy rào rào, rất gần, như ngay sát bên cạnh. Đến rồi! Người lái xe hồ hởi thông báo. Song, thật ra dòng thác huyền thoại nằm ở thung lũng dưới chân núi, cách nơi chúng tôi đang đứng một khoảng cách khá xa. Từ nơi này có thể nhìn thấy những cột nước trắng xóa tuôn trào từ trên đỉnh, như những thảm lụa trắng mềm mại, nổi bật trên màu xanh của núi rừng và cây cỏ. Bọt nước tung lên cao, vỡ òa, tạo thành màn sương lung linh, khi ẩn khi hiện mờ ảo trong ánh nắng mặt trời rực rỡ.



Theo con đường dốc nằm giữa các ngọn đồi xanh rì, qua cây cầu ván thơ mộng bắc trên dòng suối nhỏ trong vắt, chúng tôi tiến dần về phía thác. Trong cuốn Dư địa chí Cao Bằng có viết: “Con sông Quây Sơn chảy từ Trung Quốc vào Việt Nam qua Bản Giốc, xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh thì tách ra thành nhiều nhánh rồi đột ngột hạ thấp xuống 35 m tạo thành thác có 3 tầng”. Nhờ những triền đá, mỏm đá, bậc đá, kè chắn… lởm chởm, mấp mô, dòng nước sông Quây Sơn bị chia thành nhiều nhánh, tạo nên vẻ đẹp kỳ diệu hiếm có của thiên nhiên nơi này.



Thác Bản Giốc bao gồm hai phần: Thác chính ở phía bắc là “thác ba tầng”, gồm ba bậc nước chênh nhau đến 34m. Thác phụ ở phía nam cũng gồm ba dòng thác, nhưng nằm ở độ cao ngang nhau, cao hơn thác chính nên được gọi là “thác cao”. Hai phần thác chính và phụ của Bản Giốc ngăn cách nhau bằng một ngọn đồi  xanh ngắt. Ngày đêm thác nước cuồn cuộn đổ xuống những tảng đá phẳng làm tung lên vô vàn hạt bụi li ti trắng xóa như sương khói, bao trùm cả không gian. Vào những ngày nắng, làn hơi nước tạo thành cầu vồng lung linh huyền ảo. Dưới chân thác là mặt hồ rộng, phẳng lặng, nước trong vắt, soi bóng thác đổ. Bên bờ hồ là những thảm cây cỏ, lúa xanh rì.



Để đến tận nơi chiêm ngưỡng dung nhan “công chúa”, chúng tôi lên chiếc bè (mảng), do người bản địa chèo lái. Sau chút chênh chao ban đầu, chiếc bè băng băng lướt trên mặt hồ, đưa cả đoàn thẳng tiến về phía trước. Sau khi dạo một vòng quanh thác, chiếc bè áp sát vào chân thác. Càng đến gần, không khí càng mát rượi trong màn bụi nước bãng lãng sương khói. Ai cũng ấn tượng trước Bản Giốc cuốn hút, đẹp đến ngỡ ngàng.

Theo BPO
Du kịch, GO!

Hang Pắc Pó (Cao Bằng)


Di tích lịch sử Pác Bó nằm trên địa bàn xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Đây là địa điểm từng gắn với hoạt động của Bác trong giai đoạn đầu trở về Tổ quốc lãnh đạo Cách mạng (1941 - 1945).
Đầu năm 1941, Nguyễn Ái Quốc cùng 5 đồng chí đã về nước và ở tại nhà ông Lý Quốc Súng, sau đó chuyển vào hang Cốc Bó, hang Lũng Lạn và lán Khuổi Nặm. Tại đây, từ ngày 10 đến ngày 19/5/1941, đã diễn ra Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8. Hội nghị đã nhận định rõ tình hình trong nước và thế giới, quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh, xây dựng căn cứ địa cách mạng, phát triển chiến tranh du kích, khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền trong cả nước. Và, cũng tại lán Khuổi Nặm II, Bác đã thành lập Báo Việt Nam độc lập.
 
Ngày 22/12/1944, tại rừng Trần Hưng Đạo, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân được thành lập, gồm 34 chiến sĩ, dưới sự chỉ huy của đồng chí Võ Nguyên Giáp. Trong giai đoạn này, Bác đã biên soạn nhiều tài liệu như: Lịch sử Đảng cộng sản Liên Xô, Cách đánh du kích, Điều lệ Đảng, Phụ nữ cứu quốc, Phụ lão cứu quốc, Thanh niên cứu quốc và đặc biệt là biên soạn bức thư Kính cáo đồng bào (ngày 06/6/1941), kêu gọi toàn dân đoàn kết đánh kẻ thù chung là thực dân Pháp, phát xít Nhật và Việt gian, giành độc lập, tự do. Ngày 04/5/1945, Bác cùng đoàn cán bộ rời Pác Bó về Tân Trào (Tuyên Quang) để chỉ đạo, tập hợp quốc dân tham gia tổng khởi nghĩa để giành chính quyền trong cả nước, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (ngày 02/9/1945), nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Theo “Quy hoạch tổng thể di tích” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, di tích Pác Bó bao gồm:
1. Cụm di tích khu vực đầu nguồn

- Hang Cốc Bó (tiếng Nùng có nghĩa là “đầu nguồn”) rộng khoảng 80m2, cửa hang chỉ một người đi vừa. Đây là nơi Bác và các đồng chí cán bộ cách mạng ở từ ngày 08/02/1941 đến trung tuần tháng 3 năm 1941. Trong hang hiện còn một bộ bàn ghế mà Bác đã từng ngồi làm việc với các cán bộ cách mạng và dịch các tài liệu quan trọng.

Nền nhà ông Lý Quốc Súng: là ngôi nhà Bác Hồ đã ở khi mới trở về Tổ quốc chỉ đạo cách mạng (từ ngày 28 tháng 01 đến ngày 07/02/1941). Ngôi nhà này được xây dựng khoảng năm 1937, theo kiểu nhà sàn ở địa phương.
- Hang Lũng Lạn: là nơi Bác ở và làm việc trong khoảng cuối tháng 3 năm 1941. Hang rộng khoảng 50m2.
- Hang Ngườm Vài: tại đây, năm 1941, Bác trực tiếp dự và hướng dẫn và kết nạp Đảng cho đồng chí Nông Thị Trưng. Hang rộng khoảng 80m2.

- Suối Lê Nin: thời gian ở Pác Bó, Bác thường ngồi câu cá ở suối này. Đến nay, di tích vẫn giữ được cảnh quan tương đối nguyên vẹn.
- Nền nhà ông La Thanh: là cơ sở cách mạng quan trọng thời kỳ tiền khởi nghĩa. Đây là nơi đón tiếp các đại biểu toàn quốc về dự Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8. Hiện nay, di tích chỉ còn lại nền nhà cũ, diện tích rộng 131m2, đã được cắm bia giới thiệu di tích.
-: nay là cột mốc số 675, là một trong 314 cột mốc biên giới Việt - Trung xưa, được làm bằng đá tảng nguyên khối, hình bầu dục, cao khoảng 70cm, bên trên khắc nội dung bằng tiếng Trung và tiếng Pháp.
Khu ruộng Goọc Mu: vốn là một xóm trong thôn Pác Bó; sau khi thực hiện chính sách quy hoạch lại khu cư trú để thành lập hợp tác xã nông nghiệp, xóm Goọc Mu được chuyển về trung tâm Pác Bó. Tại địa điểm Goọc Mu, năm 1940, nhân dân thôn Pác Bó đã từng vào đây cắt máu ăn thề, nguyện suốt đời đi theo cách mạng.
2. Các điểm lưu niệm tại khu trung tâm
- Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh và sân quảng trường: được xây dựng theo mô hình nhà sàn dân tộc, nằm trên dãy Linh Sơn, thuộc khu di tích Pác Bó, khánh thành năm 2011.
Khu ruộng Nà Chang: có diện tích khoảng 5000m2,là nơi mít tinh đón Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm và nói chuyện với nhân dân Pác Bó ngày 20/2/1961.
Các công trình: nhà trưng bày, nhà đón tiếp.
3. Cụm di tích Kim Đồng

- Mộ Kim Đồng: nằm dưới chân núi Tèo Lài, thuộc làng Nà Mạ. Hiện nay, toàn bộ khu vực này được xây tường rào bao quanh. Bên trái mộ Kim Đồng là mộ của mẹ Kim Đồng, phía sau là tượng đài Kim Đồng và bức tường nghệ thuật, thể hiện ý nghĩa 14 mùa xuân của Kim Đồng.
- Hang Nộc Én: nằm ở dãy núi Phia Đài và Phia U, phía sau làng Nà Mạ. Tại địa điểm này, vào tháng 8 năm 1942, Kim Đồng đã được Bác giao nhiệm vụ thông tin liên lạc, bảo vệ cách mạng.
- Pò Đoi - Thoong Mạ: là nơi thành lập Đội Nhi đồng cứu quốc (ngày 15/5/1941), do Kim Đồng là đội trưởng. Hiện nay, di tích đã được Tỉnh Đoàn Cao Bằng xây dựng nhà bia lưu niệm, ghi dấu sự kiện thành lập Đội Nhi đồng cứu quốc và ghi danh những thành viên trong đội.
4. Cụm di tích Bó Bẩm
- Nhà ông Dương Văn Đình: là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nói chuyện, về cuộc sống của nhân dân, nỗi khổ của người dân mất nước, tuyên truyền về cách mạng.
- Núi Các Mác, suối Lê Nin, hang Đầu Hổ: là nơi nhân dân Cao Bằng đã tổ chức lễ truy điệu Bác (tháng 9 năm 1969).
5. Cụm di tích Khuổi Nặm
- Lán Khuổi Nặm: là nơi Bác ở lâu nhất. Ngoài ra, để đảm bảo an toàn cho Bác, các đồng chí cán bộ đã làm thêm cho Người hai lán nữa (lán Khuổi Nặm II và III). Lán Khuổi Nặm có địa thế rất thuận lợi, nằm ngay ở cửa rừng, được che kín, nhìn bên ngoài vào không phát hiện được, nhưng ở bên trong quan sát ra thì rất rõ, khi có động tĩnh có thể rút lui, ngược dòng Khuổi Nặm qua mốc 109 sang Trung Quốc an toàn. Lán được dựng theo kiểu nhà sàn dân tộc, với 2 gian nhỏ, có diện tích khoảng 12m2. Lán hiện nay mới được trùng tu lại trong khoảng thời gian gần đây.
- Hang Slí Điếng và hang Diêm Tiêu: là địa điểm được Bác sử dụng làm hòm thư bí mật, giai đoạn 1941 - 1945.
Với những giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học đặc biệt của Khu di tích, ngày 10/5/2012, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định xếp hạng Di tích lịch sử Pác Bó là Di tích Quốc gia đặc biệt (Quyết định số 548/QĐ-TTg).

Bài đăng phổ biến