Hiển thị các bài đăng có nhãn Bình Định. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bình Định. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 24 tháng 6, 2015

Thành Đồ Bàn (Bình Định)


Thành cổ Đồ Bàn nằm ở phía bắc huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định, tọa lạc trên đất các thôn Nam Tân, Bắc Thuận và Bá Canh của xã Nhơn Hậu và cách thành phố Quy Nhơn 27 km về hướng bắc.

Đồ Bàn là kinh đô của vương quốc Chămpa, vốn tên là Vijaya, được xây dựng từ năm 1000. Trong các sử liệu thường phiên âm là Đồ bàn, Xà Bàn, Trà Bàn hay Chà Bàn.
Thành do Chiêm vương Ngô Nhật Hoan đứng ra xây dựng, kiến trúc thật kiên cố. Bên trong có dựng tháp Bảo chướng, bên ngoài có dãy đồi Kim Sơn án ngữ mặt tây, có núi Long Cốt làm tiền án và gò Thập Tháp yểm hậu.



Thành vị phế bỏ kể từ năm 1471 sau khi vua Lê Thánh Tông mang đại binh vào đánh chiếm kinh đô Đồ Bàn và cả châu Vijaya, sau khi đổi thành phủ Hoài Nhơn trực thuộc Quảng Nam thừa tuyên.

Theo sách “Đồ Bàn Ký” của Nguyễn Văn Hiển thì: “Thành Xà bàn hình vuông xây bằng gạch, mở bốn cửa, chu vi hơn mười dặm”. Sách “Thiên Nam Tứ chí lộ đồ” vào thời Lê thì ghi: “Xã Phú Đa xưa có thành gạch gọi là thành Đồ Bàn, hình vuông, mỗi bề dài một dặm, mở bốn cửa, trong đó, có điện, có tháp, Điện đã bị sụp đổ, tháp còn 12 tòa tục gọi là tháp Con gái…”



Năm 1776, Nguyễn Nhạc cho xây dựng lại và mở rộng thêm thành Đồ bàn làm sở chỉ huy của nghĩa quân. Sách “Lê Quý Dật sử” có chép: “Nhân đất cũ của Chiêm Thành, Nguyễn Nhạc cho sửa đắp lại thành Đồ Bàn, đào lấy đá ong xây thành lũy, mở cung điện”. Đến năm 1778, thành Đồ Bàn được đổi tên là thành Hoàng đế và giữ vai trò Đại bản doanh của Bộ chỉ huy quân đội Tây Sơn cho đến năm 1786.

Đầu năm 1785, quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy, xuất phát từ thành Hoàng Đế vượt biển vào Giả Định đánh tan 5 vạn quân Xiêm, lập nên chiến công vang dội ở Rạch Gầm-Xoài Mút, giữa năm 1786, quân Tây Sơn cũng dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Huệ, từ thành Hoàng đế tiến ra Bắc Hà lật đổ chế độ chúa Trịnh, lập lại nền thống nhất quốc gia.



Từ năm 1786 đến năm 1793, thành Hoàng đế là kinh đô của chính quyền trung ương hoàng đế Nguyễn Nhạc. Đứng về phương diện lịch sử, thành Hoàng đế chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn ngủi, nhưng đó lại là một kiến trúc quân sự quan trọng gắn liền với quá trình phát triển thắng lợi của phong trào Tây Sơn trong giai đoạn đầu. Căn cứ vào những di tích còn lại, thành Hoàng đế gồm ba vòng thành: thành nội, thành ngoại và tử cấm thành.

Thành ngoại là vòng thành ngoài cùng, hình chữ nhật nhưng các cạnh uốn lượn, không thẳng, chu vi đo được 7400m. Hiện nay, quốc lộ 1A chạy qua góc đông bắc của thành ngoại và đường xe lửa thì cắt qua góc tây bắc và cạnh nam của thành. Thành mở 5 cửa, cạnh nam mở hai cửa là cửa Vệ hay cửa Nam và cửa Tân Khai. Ba cạnh đông, tây, bắc thì mở ba cửa đông, tây và bắc. Thành ngoại đắp bằng đất, phía trong và phía ngoài bó đá ong.



Thành nội có tên là Hoàng thành, được xây chếch về hướng tây nam của thành ngoại và hầu như đã bị san phẳng hoàn toàn. Thành nội cũng hình chữ nhật, chu vi đo được 1600m. Hai cạnh đông và tây, mỗi cạnh dài 430m, hai cạnh bắc và nam, mỗi cạnh dài 370m. Thành nội cũng đắp bằng đất, bên ngoài và bên trong bó bằng đá ong, chân thành rộng từ 7-9m. Thành nội mở ba cửa: Cửa Tiền hay cửa Nam ở chính giữa cạnh nam nhìn thẳng ra cửa Vệ của thành nội.

Tử Cấm Thành là vòng thành trong cùng, hình chữ nhật, chu vi đo được gần 600m. Thành chỉ mở một cửa phía nam, rộng chừng 15m, gọi là cửa Nam Lâu hay cửa Quyển Bồng. Theo “Đồ Bàn Thành ký” của Nguyễn Văn Hiển thì thành Hoàng đế được xây dựng trên nền đất cũ của thành Đồ bàn và chỉ mở rộng về phía đông, kéo dài chu vi đến 15 dặm.



Năm 1793, Nguyễn Nhạc mất, thành Hoàng đế đổi tên là thành Quy Nhơn, lệ thuộc vào kinh đô Phú Xuân. Năm 1799, sau khi đánh bại quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh đổi tên là thành Bình Định. Năm 1823, Gia Long phế bỏ thành Bình Định, cho chuyển ly sở về thôn Kim Châu và thôn An Ngãi, cách đó chừng 4km về phía nam (nay là thị trấn Bình Định, huyện lỵ huyện An Nhơn). Thành Bình Định hoang phế và bị hủy hoại theo thời gian.

Thành cổ Đồ Bàn hay thành Bình Định từ ấy đến nay chỉ còn trơ một dãy gò sỏi đá cùng ngọn tháp Chàm Cánh Tiên ngạo nghễ với nắng mưa và theo nhà khảo cổ Parmentrir, thì đó là trung tâm thành Đồ Bàn thuở xa xưa. Đó đây lác đác vài cây cổ thụ dáng dấp mệt mỏi u buồn cùng những bụi cây gai xương xẩu. Những ao nước như Ao Liệt, Bàu Vệ, Bàu Nóc… là những nét chấm phá, điểm tô cho toàn cảnh bức tranh Đồ Bàn ngày nay.



Ở trong khu cổ thành, những kiến trúc còn lại hầu hết đều thuộc đời nhà Nguyễn Gia Long. Đó là lăng mộ và đền Song Trung thờ Võ Tánh và Ngô Tùng Châu. Đền chỉ thu hẹp thành một tiểu đình mỗi cạnh 2m20, là di tích lầu Bát Giác nơi Võ Tánh tự thiêu mình. Trong Tử Cấm Thành hiện còn giữ 5 con nghê đá và hai con voi đá, là những di vật quý báu của nghệ thuật Chămpa còn sót lại.

Thành Đồ bàn cũng thôi không nức nở
Trong sương mờ huyền ảo lắng tai nghe
Từ một làng xa xôi bao tiếng mõ
Tan dần trong yên lặng của đồng quê…
(Điêu Tàn-Chế lan Viên)

Thành Đồ Bàn không còn nữa nhưng qua các di tích và sử liệu ghi chép, du khách có thể tìm lại hình ảnh thời xa xưa.

Hiện nay, thành cổ Đồ bàn, còn gọi là thành Hoàng Đế hay là thành Bình Định đã được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia cần được bảo tồn và trở thành nơi tham quan du lịch và nghiên cứu đầy hấp dẫn của Bình Định.

Du lịch, GO! - Theo thư viện Bình Định, ảnh internet

Hòn Khô và câu chuyện " Bà Robinson" (Bình Định)


Hòn Khô là một đảo nhỏ cách thành phố Quy Nhơn (Bình Định) chừng 20 km, thuộc địa phận xã Nhơn Hải. Gọi là Hòn Khô là bởi đảo chẳng có gì ngoài mấy dãy núi đá cheo leo, khô khốc cố ngoi ra biển.

Trên đảo, chỉ có duy nhất một ngôi nhà nằm lọt thỏm sau vách núi. Đó là chốn dừng chân của khách xa để uống ngụm nước, đặt lưng xuống cánh võng nghe miên man biển cả mây trời… Hòn Khô không đủ lớn để chứa những nhà hàng, khu dịch vụ dù là nhỏ nhất. Ấy vậy mà lại có sức quyến rũ lạ kỳ! Hằng năm, đảo vẫn thu hút được một lượng khách đáng kể từ các trung tâm lữ hành, khách sạn.

Đảo hoang vắng, trơ trọi, bốn mùa ở đảo là bốn mùa gió biển thi nhau đùa cợt xô đẩy vào vách đá. Những con sóng bạc đầu lại có vẻ thích thú với việc tạo hình cho đá hơn. Chúng miệt mài đêm ngày chăm chút, tỉa tót khiến đá cũng mềm lòng mà uốn éo, ngả nghiêng.

Hòn Khô thật biết chiều chuộng những đôi chân ưa khám phá mạo hiểm. Nó buộc khách xa phải thở hổn hển trèo hết vách này đến dốc khác để rồi trả công bằng cảm giác khi lên tới đỉnh. Ở đó, người ta mới cảm hết được sự khoáng đạt, bao la của biển cả. Phía xa xa là toàn cảnh thành phố Quy Nhơn được thu gọn trong tầm mắt…

Bãi tắm ở Hòn Khô vẫn giữ được nét hoang sơ, mộc mạc. Không chỉ sở hữu làn nước biển xanh trong, đảo còn được bao bọc bởi rạn san hô muôn màu. Điểm đặc biệt là chúng có nhiều ở trong vùng nước cạn, trẻ con tha hồ nhìn ngắm. Lặn san hô trở thành một đặc sản du lịch Hòn Khô.

Nhưng ở đảo không chỉ có bấy nhiêu. Từ lâu, đây đã là địa chỉ sinh sản quen thuộc cho họ nhà rùa (dân gian hay gọi là vích, đồi mồi). Cứ đến mùa, những con rùa biển lại rẽ sóng hướng thẳng vào bãi cát Hòn Khô. Có năm, chúng lên hàng đàn. Với người dân làng chài, được nhìn thấy rùa con bóc vỏ chạy xuống biển là một điều may mắn, hứa hẹn mùa ra khơi thuận buồm xuôi gió…

Ngoài ra, du khách còn được thưởng thức dưa hấu trồng trên đảo. Những trái dưa chắt mót hết khả năng chất dinh dưỡng trên vùng đất khô cằn, nắng gió. Chúng không phải là loại dưa ngon nhất nhưng chắc chắn là một trong những thứ dưa quý giá nhất… Nó đong đầy cái tình của đảo, của con người xứ biển. Khách về rồi mà cứ lưu luyến một Hòn Khô chòng chành vách đá, bọt sóng, râm ran câu chuyện những chú rùa và vị ngọt ngọt mặn mặn của trái dưa đảo nhỏ.



“Bà Robinson” trên đảo Hòn Khô

Bà sống một mình trên đảo suốt 31 năm. Có người cho bà bị điên, có người gọi bà là bà tiên... Mặc, bà vẫn một mình cắm lá cờ Tổ quốc hằng ngày bay trên nóc đảo rồi làm bạn với sóng gió trên đảo hoang và làm “bà đỡ” cho những đàn rùa biển sinh sôi.

Bà tên thật là Trần Thị Nữ, còn có tên khác là Rô vì nhiều người gọi vui, so sánh bà với Robinson lạc giữa đảo hoang. Đảo Hòn Khô (xã Nhơn Hải, TP Quy Nhơn, Bình Định) nơi bà ở cách TP Quy Nhơn 20 hải lý, hằng năm rùa biển quý hiếm thường lên đẻ.

Duyên phận với rùa

Ngôi nhà nhỏ khép nép ẩn sâu trong vách núi, chỉ có cây bàng xanh tốt quanh Hòn Khô khô khốc với nắng và sóng, người đàn bà nằm trên võng nhìn đăm chiêu ra biển. Gió lồng lộng thổi. Đã 31 năm, cứ như thế trên đảo hoang bà sống chung với đú (cách gọi của người dân chài ở đây về loài rùa biển).

Dáng vóc bà vạm vỡ, thể hiện qua đôi cánh tay một thời trẻ trung ngang dọc làng chài. Bà vẫn bơi thuyền, cưỡi sóng dù đã tuổi 80. “Bả có nhà, con cháu làm ăn khá giả, không hận đời, không giận ai, vậy mà đùng một cái bả tự chèo thuyền ra đảo hoang ở một mình” một ngư dân ở đây vẫn chưa hết ngạc nhiên về quyết định của bà Rô. Hơn 30 năm trước, một lần chèo thuyền qua đảo hái rong biển, bà lên bãi cát ngồi nghỉ, người đàn bà có tám mặt con ấy thấy tâm hồn thư thái, yên bình như vứt bỏ được tất cả nỗi lo toan cuộc đời.

Vậy là tá túc lại, rồi bà quyết định gắn bó với hòn đảo. Bà viết lên tảng đá những vần thơ kỳ lạ, đọc Truyện Kiều vanh vách và hát bội, bài chòi bằng giọng của sóng, của biển mê hoặc lòng người, nói chuyện với bà, bà đáp lại bằng thơ. Những ngày rằm ăn chay, bà chỉ uống nước và đã 31 năm không ăn cơm. Bà kể: “Lúc ra đảo ở chỉ đem theo bánh tráng, nước uống rồi kiếm vài con cá, con còng ăn dần rồi quen, bây giờ ăn gì cũng được nhưng không ăn được cơm”.

“Mỗi năm, tại khu vực này có khoảng 5-7 ổ trứng được Chi cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản Bình Định phát hiện và khoanh vùng bảo vệ. Bà Rô là người đã tư vấn cho chúng tôi rất nhiều về đặc tính của rùa biển. Bà còn tham gia bảo vệ trứng, san hô và rong mơ ở đảo, giữ môi trường sinh thái biển và vệ sinh đảo rất sạch sẽ, tạo điều kiện tốt cho rùa lên đẻ” - bà Nguyễn Hải Bình, trưởng phòng quản lý nguồn lợi và môi trường thủy sản Chi cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản Bình Định, cho biết.

Đêm nằm ngủ một mình trên bãi cát không có dấu chân người, chỉ có những con còng chạy ăn vẽ nham nhở trên cát cùng tiếng chim biển lẫn trong tiếng sóng rì rào, quá đỗi bình yên, hồn bà như hòa vào biển bềnh bồng. “Vậy mà có một đêm tôi chợt giật mình khi nhìn thấy những tảng đá lớn di chuyển từ biển lên bờ, thỉnh thoảng phát ra âm thanh lạ” - bà kể. Cho đến một lần vào mùa trăng sáng, bà mới tận mắt nhìn và phát hiện đó là rùa.

Dần rồi quen, lũ rùa ban đêm rón rén bò lên, thấy bà nằm trên bãi, nó tránh bà đi tìm chỗ khác đẻ. Bà kể: “Lúc đó đâu biết, thấy nó đẻ trứng nhiều mình mừng lắm, cứ thế lấy luộc ăn thôi, ăn không hết thì bỏ lên thuyền chở về cho con cháu”. Thằng Bình, cháu ngoại của bà, khi đó mới mười mấy tuổi trong bờ ra, thấy trứng cũng kẹp chèo theo đi xăm. Cứ mùa đú đẻ thì bà cháu đi xăm tìm trứng, hết mùa thì đi bứt rong mơ, nhổ san hô về bán. Cái đảo hoang này vậy mà nguồn lợi phong phú...

Nhưng không phải ổ trứng nào cũng tìm ra, có lúc bà phát hiện những quả trứng đã nở thành con, từng đàn rùa chạy nhanh xuống biển. Vài lần bà thử đuổi theo bắt, chúng chạy nhanh hơn chân người, nghiêng mình rẽ nước, bà cũng lặn theo. Trong rừng san hô được phủ lên những lá rong mơ, những đàn cá đủ màu sắc trú ngụ vội nép mình. Một hình ảnh hoang sơ tuyệt đẹp. Bà ngây ngất trước thế giới loài vật sống rất gần bao nhiêu năm mà bà chưa hề thấy. Lẽ nào mình lại hủy hoại cuộc sống đang yên lành của chúng? Yên lành như mình đang sống trên đảo hoang. Vậy là bà không ăn trứng nữa, không cho cháu bà ăn và ai lên xăm trứng rùa bà đều cấm.



Giữ đảo hoang cho đú

Lúc mới đến đảo vắng dấu chân người, chỉ một mình bà, rùa thường lên đẻ. “Hình như nó xem tôi là bạn nên không ngần ngại gì, có lúc nó đang đẻ tôi thò tay lấy trứng nó vẫn cứ đẻ” - bà kể. Mỗi ổ trứng rùa khoảng 70 trứng, có khi đến cả trăm. Mỗi lần ổ rùa nở cùng lúc hàng chục con đua nhau ùa ra biển, bà thấy trong lòng rất vui.

Bà cho biết: “Cách đây 10 năm, mùa đú đẻ người đi xăm trứng đông lắm. Cuối ngày, có người vác cả bao trứng lên thuyền chở về, ít ổ trứng rùa nào có cơ hội nở. Tôi thấy xót nên cấm không một ai được bước tới khu vực đảo khai thác”. Hằng ngày, chính bà đi hốt cát làm ổ cho rùa lên đẻ, có rác bà dọn rác, có cái gì thuộc về vật dụng của con người ngoài biển tấp vào, bà giấu đi... Cứ như thế rùa lên đẻ ở khu vực bà ở ngày càng nhiều, hàng vạn chú đú con khai sinh nơi đảo Hòn Khô xem bà như mẹ đỡ rồi rong ruổi hành trình hàng ngàn kilômet để lớn lên, tới kỳ sinh nở lại về Hòn Khô với bà.

“Cái kỳ lạ của duyên số là thằng cháu tôi cũng bỏ nghề, nó gia nhập đoàn bảo tồn rùa biển gì đó của quốc tế” - bà kể. Đứa cháu ngoại mà bà nói là Lê Thái Bình, cách đây một năm, Liên minh Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) về tuyên tuyền, vận động, Bình trở thành tình nguyện viên bảo vệ rùa biển. Bình tâm sự: “Bà cấm mình lâu lắm rồi, sau này nhờ IUCN mới biết của trời cho rất quý mà mình phải giữ gìn”.

Bà không hiểu lắm về bảo tồn, chỉ thấy thương con đú nhiều đêm vẫn thường lên bè bạn với người đàn bà độc nhất trên đảo ban đêm. Cháu bà được giáo dục bài bản hơn. Bà con ở xã Nhơn Hải sống gần đảo Hòn Khô không khỏi ngỡ ngàng về sự thay đổi của hai bà cháu. Họ làm theo, không bắt đú, không hái rong, không bẻ san hô một phần vì sợ bà “chúa đảo”, một phần nhờ được sự tuyên truyền, canh giữ của đội tình nguyện viên.

Cách đây vài tháng, ngay trước mùa đú, IUCN dựng panô tuyên truyền sơn màu trắng toát phá vỡ tính hoang sơ của đảo, đú không lên đẻ. Bà đến UBND xã đề nghị đập gấp hoặc sơn lại màu nước biển, màu đảo để đú khỏi sợ.

Bây giờ ở Hòn Khô, dấu tích con người nhìn thấy đầu tiên là hình ảnh lá cờ Tổ quốc cắm trên nóc đảo. Hơn 30 năm nay, lá cờ lúc nào cũng tung bay. Hỏi thì bà chỉ cười. Bà không nói nhưng trong đôi mắt người đàn bà ấy hình ảnh thiên nhiên, biển đảo, Tổ quốc như quyện chặt.

Những “bà đỡ” của rùa biển

Xã Nhơn Hải (TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định) có nhiều bãi biển còn hoang sơ như Hòn Khô, Hải Giang, Dinh... là điều kiện tốt để rùa biển lên làm ổ đẻ trứng. Thế nhưng do sự có mặt của con người, rùa biển ngày càng xuất hiện ít đi. Để bảo vệ rùa, tháng 3-2011, UBND xã Nhơn Hải, Chi cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Bình Định phối hợp với IUCN thành lập nhóm tình nguyện bảo vệ rùa biển gồm năm thành viên: Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Xuân Hiển, Lê Thái Bình, Huỳnh Kim Phụng, Nguyễn Thành Phương.

Đầu tháng 9, khi chúng tôi đến Nhơn Hải tìm những thành viên trong nhóm tình nguyện bảo vệ rùa biển, mọi người đều đang đứng ngồi không yên, vẻ mặt hiện rõ sự nóng ruột. “Chúng tôi phát hiện một ổ trứng rùa từ tháng 6, theo tính toán 50-70 ngày rùa sẽ nở, nhưng đến nay quá mấy ngày mà vẫn chưa thấy rùa con bò ra. Nóng lòng hơn cả vợ sinh” - ông Nguyễn Văn Minh, tổ trưởng, nói đùa. Mọi người cười rộ lên nhưng vẫn không thể xua đi vẻ lo lắng.



Mới thành lập nhưng với các thành viên trong nhóm tình nguyện bảo vệ rùa biển tại Nhơn Hải, rùa biển đang dần trở thành mối quan tâm lớn trong cuộc sống của họ. Mỗi người một hoàn cảnh, một tính cách nhưng đều có một suy nghĩ rất đơn giản: “Lỡ rùa không còn nữa, con cháu mình ở biển mà không thấy được tận mắt con rùa là thế nào cũng tội nghiệp” - ông Minh tâm sự. Với anh Lê Thái Bình, cháu ruột của bà Rô, tham gia nhóm tình nguyện còn là cách để trả nợ với biển khi anh từng là một tay xăm trứng rùa có tiếng trong xã, chuyên đi tìm bắt rùa và trứng rùa để bán. Khi được vận động, anh bỏ nghề, trở thành thành viên của nhóm.

Theo ông Minh, việc bảo vệ rùa biển quan trọng nhất là dựa vào người dân chứ không thể chỉ dựa vào năm người trong nhóm. Vì lẽ đó mà người dân trong thôn Hải Đông khi ghé qua tiệm nhà ông Minh ăn bánh canh đều được nghe ông nói về rùa biển. Buổi trưa, thỉnh thoảng lại thấy ông lân la đến mấy quán cà phê trong thôn ngồi nói chuyện với đám thanh niên choai choai rồi phát tờ rơi về rùa biển.

Lúc cầm tờ rơi có người nhăn mặt khó chịu, nhưng sáng hôm sau lại ghé qua nhà ông Minh gọi tô bánh canh, chỉ húp mấy muỗng nước rồi ngập ngừng hỏi chuyện về những chú rùa. Vậy là ông lại vừa phụ vợ bưng bánh canh cho khách vừa nói chuyện về loài vật “sứ giả đại dương” này.

Sau nửa năm hoạt động, thành công lớn nhất của nhóm tình nguyện bảo vệ rùa biển Nhơn Hải là đã giúp người dân trong xã biết được rùa biển là loài cần được bảo vệ. Bây giờ, khi thấy rùa mắc lưới hay phát hiện dấu vết của rùa tìm nơi đẻ trứng, ngư dân đều gọi điện báo cho nhóm biết để đến giải cứu và bảo vệ.

Du lịch, GO! Tổng hợp

Đàn tế trời Tây Sơn (Bình Định)


Công trình khu du lịch tâm linh Ấn Sơn là tấm lòng của hậu nhân đối với tiền nhân lưu danh muôn thuở. Có thêm công trình này, Bình Định có thêm một địa chỉ để nhân dân cả nước, du khách gần xa đến thăm viếng, bày tỏ, chiêm bái tinh thần phong trào Tây Sơn trường tồn.

< Cổng đàn tế trời.

Nhân kỷ niệm 220 năm ngày mất Hoàng đế Quang Trung (1792-2012) ngày 13/9/2012, UBND tỉnh Bình Định đã làm lễ dâng hương và chính thức đưa vào hoạt động công trình Đàn tế trời đất tại núi Ấn Sơn thuộc thôn Hòa Sơn, xã Bình Tường, huyện Tây Sơn.



Ấn Sơn nằm trong dãy núi Hoành Sơn cao 364 m nằm ngang theo hướng Bắc – Nam, ở phía Tây xã Bình Tường, huyện Tây Sơn. Theo Quách Tấn, trong “Nước non Bình Định” các thầy địa lý Việt Nam cũng như Trung Hoa đều công nhận cuộc đất Hoành Sơn là đại địa, vì có nào bút (Bút Sơn – Hòn Trưng), nào nghiêng (Hợi Sơn – Hòn Dũng), nào ấn (Ấn Sơn – Hòn Giải), nào kiếm (Kiếm Sơn – Hòn Hóc Lãnh), nào cổ (Cổ Sơn – Hòn Trống), nào chung (Chung Sơn – Hòn Chuông) ở hai bên tả hữu.

Tương truyền mộ của Nguyễn Phi Phúc, thân sinh của Tây Sơn Tam Kiệt an táng ở Hoành Sơn. Sau khi chiếm được long huyệt ở Hoành Sơn thì 3 anh em Nguyễn Nhạc phát tướng, việc học hành võ cũng như văn tiến bộ lạ thường. Thầy học là cụ giáo Hiến, giỏi văn lẫn võ, rành khoa tướng số, nhìn thấy thần sắc 3 anh em họ Nguyễn, biết vận trời đã đến, bèn đem câu sấm “Tây khởi nghĩa, Bắc thu công” ra khuyên Nguyễn Nhạc về lo mưu đồ đại sự. Vâng lời thầy, 3 anh em về Kiên Thành lo chiêu mộ hào kiệt.



< Đàn tế trời tại núi Ấn Sơn thuộc thôn Hòa Sơn, xã Bình Tường, huyện Tây Sơn.

Cũng theo tương truyền, vùng non nước cẩm tú linh thiêng Ấn Sơn cũng là nơi trời đất đã ban kiếm lệnh và ấn triện có khắc bốn chữ “Sơn hà xã tắc” cho ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ. Trước khi khởi binh dựng nên sự nghiệp vĩ đại đánh đổ hai tập đoàn phong kiến Trịnh Nguyễn, thống nhất sơn hà, quét sạch ngoại xâm, “dìu dắt dân vào đạo lớn, đem dân lên cõi dài xuân”, Tây Sơn tam kiệt đã lập đàn tế trời đất ở đây để nhận ấn kiếm và cầu trời đất phù hộ cho đại nghiệp thành công.



< Áng thờ Trời - Đất tại Đàn tế Trời - Đất trên Ấn Sơn.

Tháng 11.2011, công trình Đàn tế trời đất hay còn gọi là Khu du lịch tâm linh Ấn Sơn được khởi công xây dựng. Công trình gồm các hạng mục: Đàn tế Trời Đất, Đền Ấn và các công trình phụ trợ, được bố trí theo trục thần đạo hướng Nam – Bắc, trên khu đất rộng 46 ha, do Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam tài trợ.

Đàn tế trời tọa lạc trên đỉnh cao nhất của Ấn Sơn, cấu trúc 3 tầng, tầng trên cùng hình tròn gọi là Viên Đàn, có đường kính 27 m, tượng trưng cho Trời, được xây bao bằng đá ong, lan can đá màu đỏ bao quanh, nền đất nện chặt, một lối lên từ hướng Nam có 5 bậc, chính giữa Viên Đàn đặt sập đá và nhang áng đá là áng thờ Trời – Đất.



Tầng thứ 2 gọi là Phương Đàn, có hình vuông, chiều dài mỗi cạnh 54 m, tượng trưng cho Đất, cũng được xây bao bằng đá ong, lan can đá màu vàng bao quanh, 4 lối lên theo 4 hướng Nam, Bắc, Đông, Tây, mỗi lối lên có 9 bậc, nơi đây khi tế lễ sẽ bố trí các áng thờ thần như: Thần mặt trời, mặt trăng, các thần biển, sông, núi, đầm…

< Tam quan phía nam, cổng chính của Đàn tế Trời - Đất trên Ấn Sơn.

Tầng dưới cùng cũng hình vuông được xây bao bằng tường đá ong có 4 lối vào theo 4 hướng, hướng chính là hướng Nam với cổng tam quan, 2 tầng, lối đi chính có 2 tầng mái, bên trong tam quan là một bức bình phong bằng đá, ba hướng còn lại là 3 nghi môn kiểu tứ trụ thẳng hàng, là nơi chuẩn bị và một số nghi thức diễn ra ở đây trước khi tế lễ. Nằm bên phải Đàn tế là khu Đền Ấn gồm 3 hạng mục: Tiền tế có kiến trúc mặt bằng chữ Nhất, 5 gian, mái chái, có đầu đao.



Nhà Tiền tế có bàn thờ chung các tướng lĩnh và quân sĩ thời Tây Sơn. Tiếp sau Tiền tế là Phương đình – nơi tượng trưng cho sự thông thiên, giao hòa giữa Trời và Đất, giữa Âm và Dương, ở đây sẽ đặt bản sao của Ấn lệnh nhà Tây Sơn. Phía trong cùng là kiến trúc Hậu cung, mặt bằng chữ nhất, 3 gian, mái chái là nơi đặt bàn thờ cùng bài vị của 3 anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ. Phía trước cổng Tam quan ngoài cùng của trục chính là hồ nước hình bán nguyệt vừa tạo phong thủy tốt cho hướng chính diện của Đàn tế vừa tạo điểm nhấn cho tổng thể qui hoạch Đàn thiêng. Ngoài hồ nước còn có một “nghi môn ngoại” ngăn cách giữa không gian tâm linh với bên ngoài.

Đàn tế Ấn Sơn được xây dựng theo kiểu thức Đàn thiêng tế trời, có nhiều tên gọi khác nhau: Đàn Nam Giao, Thái Giao, Giao Đàn, Giao Khâu, Viên Khâu, Thiên Đàn… Ở Việt Nam, dưới triều vua Lý Anh Tông (1138 – 1175), vào năm 1154 triều đình đã cho đắp Đàn Viên Khâu và đích thân nhà vua lên làm lễ tế Trời.



Từ đó về sau, triều nào cũng lập Đàn Nam Giao, với quy mô và quy định khác nhau, có triều quy định mỗi năm Tế Giao một lần vào tháng 2 âm lịch, có triều quy định 3 năm tổ chức một lần. Cuộc lễ Tế Giao lần cuối cùng ở Việt Nam vào thời Nguyễn, diễn ra dưới triều vua Bảo Đại (3.1945). Tế Giao là một lễ hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, mà trên hết là tinh thần hòa ái với thiên nhiên, với ước nguyện mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, thiên hạ thái bình.

Đàn tế trời đất Tây Sơn được khánh thánh đúng dịp kỷ niệm 220 năm ngày mất của Hoàng đế Quang Trung - Nguyễn Huệ tạo thêm một điểm nhấn hấp dẫn trên trục du lịch lịch sử tâm linh về phong trào Tây Sơn dọc theo Quốc lộ 19 gồm Bảo tàng Quang Trung, Đàn tế trời Tây Sơn, những đền thờ nghĩa quân Tây Sơn ở An Khê –Gia Lai.

Du lịch, GO! - Theo Văn hiến Việt Nam và nhiều nguồn tin ảnh khác

Thứ Ba, 23 tháng 6, 2015

Lễ hội ở Bình Định


Bình Định là địa phương giàu truyến thống văn hoá. Tại đây còn lưu giữ nhiều di tích kiến trúc, văn hoá của người Chăm., đặc biệt là thành cổ Trà Bàn, từng là kinh đô của vương triều Chămpa.

Lễ hội Tây Sơn

< Đội tượng binh diễu hành.

Lễ hội long trọng và qui mô lớn nhất của Bình Định là lễ hội Tây Sơn được tổ chức tại nhiều làng của huyện Bình Khê cũ, nay đổi tên là huyện Tây Sơn. Đông đảo và tưng bừng nhất là lễ hội tổ chức tại làng Kiên Mỹ, quê hương và cũng là nơi dấy binh của ba anh em Tây Sơn. Lễ hội diễn ra trong nhiều ngày, mồng 5 tháng Giêng (kỷ niệm chiến thắng Đống Đa) là ngày lễ chính.



Trước sân điện thờ và nhà bảo tàng Tây Sơn, tiếng trống đại vang lên trong không khí trang nghiêm thơm ngát mùi trầm; vị chánh tế đọc bài văn tế ôn lại sự nghiệp của phong trào Tây Sơn và những thành tựu của triều đại Tây Sơn (1770-1802), các đoàn đại biểu đến từ nhiều miền của đất nước dâng hương trước điện thờ. Dàn nhạc võ 12 trống vang lên từ khúc thúc quân đến khúc khải hoàn.

Từ vùng đất này đã ra đời một phái võ làm rạng danh truyền thống võ nghệ Việt Nam từ nhiều thế kỷ nay : phái võ Tây Sơn. Hàng năm phái võ này sống lại rạng rỡ trong lễ hội Tây Sơn, và hàng trăm ngàn người hành hương về đây để được nghe lại âm hưởng của khúc nhạc trống trận, được chiêm ngưỡng những thế võ, bài quyền bất hủ, nào là long quyền, hổ quyền, kê quyền, quyền gà chọi... gắn liền với tên tuổi Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ là những võ sĩ đã góp phần cách tân, nâng cao võ thuật Tây Sơn ở các môn côn, quyền, song kiếm, đại đao...



Võ thuật Tây Sơn cũng đã thăng hoa thành nghệ thuật âm nhạc. Đó là điệu múa-nhạc trống võ Tây Sơn mà mười mấy năm nay, những người dự lễ hội Tây Sơn tại Bình Định được thưởng thức qua tài nghệ của một thiếu nữ - cháu bảy đời của dòng tộc Nguyễn Huệ - mặc áo chẽn đỏ (hay trắng), quần màu hồng nhạt, lưng thắt đai xanh, hai tay múa cặp dùi lướt chớp nhoáng trên cả 12 mặt của bộ trống trận Tây Sơn, với một phong thái làm chủ oai phong vô cùng điệu nghệ, lại được tiếng kèn và nhịp chập chõa phụ họa, tạo nên một ấn tượng hùng tráng tuyệt vời.

Lễ hội Đổ Giàn



Lễ hội vui nhộn nhất của vùng này là lễ hội Đỗ Giàn tổ chức vào ngày rằm tháng 7 hàng năm tại Chùa Bà, làng An Thái, huyện An Nhơn. An Thái là một làng võ lâu đời, đã từng sản sinh ra nhiều võ sư, võ sĩ xuất sắc của đất Bình Định và của Việt Nam. Cho nên, ngoài ý nghĩa lễ Vu Lan, lễ báo hiếu của nhà Phật, đây còn là một lễ hội thượng võ, hội đua tài giữa các hào kiệt trẻ già ở các làng võ quanh vùng.

Tục ngữ địa phương nói : Trai An Thái, gái An Vinh là để nói lên đặc trưng của hai làng cùng uống chung dòng nước sông Côn mà một bên là con trai giỏi võ nghệ, một bên là con gái đẹp nổi tiếng. Phần hấp dẫn của lễ hội là hát bội, nhưng cái đinh của lễ hội lại là cuộc tranh tài cướp heo quay, vật cúng thần được tung từ trên giàn cao xuống để các võ sĩ tranh nhau cướp cho được con heo quay đem về cho làng mình.

Hội làng Thị Tứ

Làng Thị Tứ thuộc trấn Đập Đá, huyện An Nhơn, là làng có truyền thống làm rèn và chạm vàng tạy. Lễ hội hằng năm được tổ chức vào ngày 12 tháng 2 âm l ịch để tưởng nhớ công ơn của ông Đào Giã Tương, ông tổ của nghề rèn đã có công truyền nghề cho dân làng. Lễ hội diễn ra ở nhà thờ họ Đào để cúng lễ tổ sư nghề rèn, cỗ bàn rất linh đình. Sau lễ tế có ca hát, vui chơi, văn nghệ.



Hội xuân chợ Gò

Ai đi chợ Gò (thuộc xã Phước Nghĩa - Tuy Phước - Bình Ðịnh) đều có những kỷ niệm đẹp khó quên. Theo phong tục thì mỗi năm chợ chỉ họp hai phiên vào ngày mùng 2 và mùng 3 Tết âm lịch. Chợ họp trên một gò đất cao dưới chân núi Hàm Long bên bờ sông Hà Thành đổ ra đầm Thị Nại vì vậy mà gọi là chợ Gò. Ðiều kỳ thú ở đây là du khách đi hội chợ bị cuốn hút không chỉ bởi cảnh đẹp mà còn do được dự những sinh hoạt văn hóa độc đáo mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc. Người đi hội chợ mua bán lấy may không mặc cả, không cò kè bớt một thêm hai như chợ hàng hoá ta thường thấy.



Ai đi chợ Gò (thuộc xã Phước Nghĩa - Tuy Phước - Bình Ðịnh) đều có những kỷ niệm đẹp khó quên. Theo phong tục thì mỗi năm chợ chỉ họp hai phiên vào ngày mùng 2 và mùng 3 Tết âm lịch. Chợ họp trên một gò đất cao dưới chân núi Hàm Long bên bờ sông Hà Thành đổ ra đầm Thị Nại vì vậy mà gọi là chợ Gò. Ðiều kỳ thú ở đây là du khách đi hội chợ bị cuốn hút không chỉ bởi cảnh đẹp mà còn do được dự những sinh hoạt văn hóa độc đáo mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc. Người đi hội chợ mua bán lấy may không mặc cả, không cò kè bớt một thêm hai như chợ hàng hoá ta thường thấy.



Lễ cúng cá ông

Ở các xã ven biển tỉnh Bình Đinh hàng năm thường mở hội cúng Cá Ông vào ngày 15 tháng 3 âm lịch tại các đền thờ cá Ông. Theo truyền thuyết, Cá Ông thường cứu giúp thuyền và người bị nạn trên biển. Cũng với các nghi lễ truyền thống, dịp này còn có múa hát bả trạo, hát bội.

Hội An Thái

Tổ chức vào ngày 15 tháng 7 âm lịch hàng năm tại chùa Bà, làng An Thái, huyện An Nhơn. Ngoài ý nghĩa lễ Vu Lan – lễ báo hiếu nhà Phật, đây còn là hội đua tài của các võ sĩ của ác làng võ trong vùng. Trong lễ hội có nhiều sinh hoạt văn hoá, đặc biệt là hát bội. Phần chính của hội là tranh tài cướp heo quay, vật cúng thần từ trên giàn cao tung xuống mang về cho làng mình. Người thắng cuộc là người được nhân dân quý trọng.

Du lịch, GO! - Theo Non nước Việt Nam, Internet

3 ngôi chùa Cổ ở Bình Định


Linh Phong Thiền Tự - Còn được gọi là chùa Ông Núi, chùa nằm trên sườn phía Đông Nam Núi Bà thuộc thôn Phương Chi, xã Cát Tiến, huyện Phù Cát - Bình Định. Du khách đến đây được nghe truyền thuyết: Vua Minh Mạng mơ được Đại lão thiền sư dâng thuốc chữa khỏi bệnh nên xuống chiếu cấp bạc trùng tu chùa năm 1829.

Ban đầu chỉ là một am nhỏ gọi là Dũng Tuyền Tự, khởi dựng năm 1702. Sau được chúa Nguyễn Phúc Chu xuống chiếu cho xây lại chùa, đổi tên là Linh Phong năm 1733. Trải qua thời gian và chiến tranh, ngôi cổ tự trên chỉ còn lại cổng tam quan ở mặt đông và một bửu tháp. Năm 2004, một ngôi chùa mới đã dựng trên vị trí của chùa Linh Phong ngày xưa.



Lưng chùa Linh Phong dựa vào núi cao, mặt trông ra biển, phong cảnh thanh tao, không gian tĩnh mịch. Quanh chùa đá mọc ngổn ngang, nơi chồng chất thành những hòn giả sơn, nơi lại dựng đứng như vách, nơi lại nằm rải tác như một bầy voi nằm đấu vòi.

Nhiều thi nhân đến viếng chùa đã có bài thơ rằng:
Chùa vua cất, núi trời xây
Nguồn đạo thơm thành mạch suối đầy
Suối chảy quanh chùa, chùa vịn núi
Núi nằm ôm biển, biền xanh mây…
(Nước non Bình Định - Quách Tấn)



Chùa Nhạn Sơn - còn gọi là chùa Ông Đá thuộc địa phận thôn Nam Nhạn Tháp, xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn, cách Quy Nhơn 23 km về phía tây bắc. Ngôi chùa nằm dưới bóng một vườn xoài xanh mướt, lưng tựa vào núi Long Cốt, phía trước là hồ sen với cảnh trí thơ mộng.

Chùa Nhạn Sơn có giá trị lớn về lịch sử và nghệ thuật, là sự giao thoa giữa văn hóa Chăm bản địa và văn hóa Việt Nam mà đặc biệt hơn cả là hai pho tượng bằng đá xa thạch khổng lồ bên trong khuôn viên chùa - một phong cách nghệ thuật điêu khắc Chăm.

Đây là 2 tượng Dvarapalla (Môn Thần) với ý nghĩa người bảo vệ cho Đạo pháp, đứng đối xứng nhau cao 2,2m, rất sống động, nghệ thuật điêu khắc mang phong cách điển hình của nghệ thuật điêu khắc Chămpa thế kỷ XII-XIII. Hai tượng đã được sơn đen, đỏ tượng trưng cho ông Thiện, ông Ác trong tín ngưỡng của người Việt. Người ta truyền rằng 2 pho tượng đá rất thiêng, cầu đảo thường ứng nghiệm.



Chùa Long Khánh - Nằm ở trung tâm thành phố Quy Nhơn, là một trong những trung tâm Phật giáo lớn của tỉnh. Chùa được xây dựng từ năm 1715 (dưới thời vua Lê Dụ Tông) và là nơi truyền bá tín ngưỡng Phật giáo mạnh trong vùng thời bấy giờ.

Chùa có cấu trúc hình chữ khẩu, phía trước là chúc điện, phía sau là Tổ đình, hai bên có Đông phòng và Tây phòng. Chánh điện bài trí tôn nghiêm với tượng đức Phật Thích ca ở giữa bằng đồng cao 2m, được đúc tại chùa năm 1960. Pho tượng đức Phật A-di-đà ở sân trước chùa cao 17m, được tôn trí vào năm 1972.
Hiện chùa vẫn còn lưu giữ một số vật quý như: Thái Bình Hồng Chung đúc vào năm 1805, chiếc khánh đồng (Long Khánh Tự) đúc vào năm 1813.

Du lịch, GO!

Thứ Hai, 22 tháng 6, 2015

Bí Ẩn Hố Giang (Bình Định)


Hố Giang là một điểm nằm trong dãy núi ở phía tây xã Hoài Châu, huyện Hoài Nhơn. Nơi đây đã lưu truyền nhiều câu chuyện như truyền thuyết, đầy huyền thoại bí ẩn.

Đáng kể nhất là "hòn đá chữ" nằm ở lưng chừng núi, cách mặt đất vài trăm mét. Trên mặt nghiêng rất phẳng nhẵn của một tảng đá lớn, chiều dài hơn 4 mét, cao hơn 2 mét, người ta thấy có những dòng chữ Phạn khắc chìm trong đá. Có tất cả 13 dòng, dài ngắn khác nhau. Dân gian truyền lại rằng, đó là chữ do người Chiêm Thành khắc từ lâu đời. Các nhà khoa học xác định vào khoảng thế kỷ XIII. Mấy năm trước, đã có người đồ lại những dòng chữ này, đưa đi nghiên cứu, song ý nghĩa thế nào thì đến nay chưa có lời giải đáp.



Cạnh "đá chữ" là dòng suối chảy từ trên cao đổ xuống không bao giờ cạn, kể cả mùa khô hạn. Dưới chân "đá chữ" khoảng dăm mét có một hang ngầm rất sâu, dường như không đáy, đường kính miệng hang chừng 1 mét. Dân địa phương gọi là hang Ồ Ồ. Khi trong lòng hang phát ra tiếng ồ ồ và trời có mống, nghĩa là sắp mưa. Thấp độ mươi mét có một vết bàn chân trái, dài hơn 1 mét, rộng chừng 60 phân. Ngay cạnh đó là lỗ Ông Gậy, lỗ rộng khoảng hơn gang tay, in sâu xuống nền đá rắn như đầu gậy cắm xuống đất mềm vậy.Dulichgo

Trong chiến tranh, nơi đây bị bom pháo cày xới làm bật lên từng tảng gạch nằm sâu dưới lòng đất, giống như những viên gạch xây các tháp Chàm. Gần đây, có người rà tìm phế liệu đã đào được một tượng Chàm bằng kim loại đúc con rồng.



Vậy những dòng chữ trên đá, tượng cổ, gạch Chàm… mang bí ẩn gì của nền văn hóa Chămpa?
Hiện nay, dưới chân Hố Giang, nhân dân đắp đập làm hồ chứa nước tưới cho đồng ruộng. Hồ nước trong xanh soi bóng núi, mây trời. Những đàn bò ung dung gặm cỏ. Vườn bạch đàn vi vu gió hát… Cảnh quan thiên nhiên cùng những bí ẩn, huyền thoại của Hố Giang có thể biến nơi đây thành điểm du lịch đầy hấp dẫn. Nhân dân Hoài Châu đã mở đường đến tận chân núi, xe con có thể đi được. Ngày lễ tết, trai thanh gái lịch của Hoài Nhơn vẫn thường kéo nhau lên đây du ngoạn, thưởng thức cảnh đẹp của quê hương.

Theo Nguyễn Văn Chương (Báo Bình Định)
Du lịch, GO!

Bài đăng phổ biến